Nghiên Cứu Giải Pháp Quản Lý Bảo Vệ Rừng Dựa Trên Cộng Đồng Ở Huyện Phù Yên, Tỉnh Sơn La

Chuyên khảo phân tích Luận văn nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng ở huyện phù, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Trường đại học

Trường Đại Học Nông Lâm

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2023

106
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Nhận thức về quản lý bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng

1.2. Khái niệm về cộng đồng tham gia quản lý rừng

1.3. Vai trò của chính sách Nhà nước đối với bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng

1.4. Chiến lược và chính sách bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng

1.5. Quan điểm về bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng

1.6. Tình hình nghiên cứu và thực hiện trên thế giới

1.6.1. Ở Thái Lan

1.6.2. Ở NePal

1.6.3. Ở Indonêsia

1.6.4. Ở Ấn Độ

1.6.5. Ở Philippine

1.7. Bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng ở Việt Nam

1.7.1. Các tổ chức cộng đồng ở Việt Nam

1.7.2. Hình thức bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng ở Việt Nam

Tóm tắt

I. Tổng Quan Quản Lý Bảo Vệ Rừng Cộng Đồng Tại Phù Yên

Ngành lâm nghiệp Việt Nam đang chuyển đổi mạnh mẽ sang lâm nghiệp xã hội. Cộng đồng dân cư thôn, bản, những người sinh sống gần rừng, đóng vai trò ngày càng quan trọng trong hệ thống quản lý rừng cộng đồng. Huyện Phù Yên, Sơn La, với diện tích rừng tự nhiên lớn, đang đối mặt với thách thức khai thác và sử dụng rừng chưa hợp lý. Hoạt động khai thác gỗ trái phép, săn bắn trái phép thường xuyên xảy ra, làm suy giảm diện tích và chất lượng rừng. Hậu quả là hạn hán, lũ lụt, thu hẹp diện tích đất ruộng, kinh tế chậm phát triển, đời sống nhân dân nghèo nàn. Nguyên nhân chủ yếu là thiếu sự tham gia tích cực của người dân địa phương. Quản lý rừng không thể hiệu quả nếu chỉ dựa vào Nhà nước, mà cần khuyến khích sự tham gia của cộng đồng.

1.1. Định Nghĩa và Nhận Thức Về Quản Lý Rừng Cộng Đồng

Cộng đồng là tập hợp những người sống gắn bó với nhau, có điểm tương đồng về văn hóa, kinh tế, xã hội, phong tục tập quán. Trong quản lý rừng, cộng đồng thường được hiểu là cộng đồng dân cư thôn, bản. Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 định nghĩa cộng đồng dân cư thôn là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản. Trong nghiên cứu này, cộng đồng được hiểu theo nghĩa là cộng đồng thôn, bản (kể cả các tổ chức đoàn thể trong cộng đồng). Lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ) là thuật ngữ bao trùm diễn tả hàng loạt các hoạt động gắn người dân với rừng, cây, các sản phẩm của rừng và việc phân chia lợi ích.

1.2. Các Hình Thức Quản Lý Rừng Dựa Trên Cộng Đồng Phù Yên

Ở Việt Nam, có hai hình thức quản lý rừng cộng đồng phù hợp với định nghĩa của FAO. Thứ nhất, quản lý rừng cộng đồng (QLRCĐ), là hình thức mọi thành viên của cộng đồng tham gia quản lý và hưởng lợi từ rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của cộng đồng. Thứ hai, quản lý rừng dựa vào cộng đồng, là hình thức cộng đồng tham gia quản lý các khu rừng không thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu chung của họ mà thuộc quyền quản lý, sử dụng sở hữu của các thành phần kinh tế khác. LNCĐ là một hình thức quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát triển rừng do cộng đồng dân cư thôn bản thực hiện.

II. Thực Trạng Quản Lý Bảo Vệ Rừng Cộng Đồng Huyện Phù Yên

Thực tế cho thấy, một trong những nguyên nhân chính gây mất rừng tại Phù Yên là sự thiếu tham gia tích cực của người dân địa phương. Nhiều người thờ ơ với các hành vi xâm hại rừng, thậm chí còn trực tiếp tham gia vào khai thác gỗ và động vật rừng trái phép. Công tác quản lý rừng không thể đạt hiệu quả nếu chỉ dựa vào lực lượng kiểm lâm và chính quyền địa phương. Do đó, việc khuyến khích sự tham gia của cộng đồng là vô cùng quan trọng. Cần có những giải pháp về kinh tế, xã hội, khoa học công nghệ để xã hội hóa công tác này, góp phần bảo vệ diện tích rừng hiện có và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.

2.1. Những Thách Thức Trong Quản Lý Rừng Bền Vững ở Phù Yên

Việc khai thác quá mức, không bền vững nguồn tài nguyên rừng dẫn đến suy thoái tài nguyên rừng, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và đời sống của người dân địa phương. Tình trạng phá rừng trái phép diễn ra khá phức tạp, gây khó khăn cho công tác quản lý, bảo vệ rừng. Việc nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người dân về bảo vệ rừng còn hạn chế, nhiều người vẫn coi rừng là nguồn tài nguyên khai thác vô tận.

2.2. Đánh Giá Hiệu Quả Quản Lý Rừng Hiện Tại ở Sơn La

Mặc dù đã có những nỗ lực từ các cấp chính quyền và lực lượng kiểm lâm, hiệu quả quản lý rừng vẫn chưa đạt yêu cầu. Tình trạng mất rừng vẫn tiếp diễn, diện tích và chất lượng rừng tự nhiên ngày càng suy giảm. Việc phối hợp giữa các lực lượng chức năng và người dân địa phương còn chưa chặt chẽ, hiệu quả. Chính sách quản lý rừng cộng đồng còn nhiều bất cập, chưa thực sự khuyến khích được sự tham gia tích cực của người dân.

2.3. Tác Động Của Mất Rừng Đến Sinh Kế Người Dân Địa Phương

Mất rừng gây ra những hậu quả nghiêm trọng đến đời sống kinh tế - xã hội của người dân địa phương, đặc biệt là các hộ gia đình phụ thuộc vào nguồn lợi từ rừng. Suy giảm nguồn nước, hạn hán, lũ lụt ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp. Mất đi nguồn lâm sản ngoài gỗ, ảnh hưởng đến thu nhập của người dân. Gia tăng nguy cơ sạt lở đất, đe dọa tính mạng và tài sản của người dân.

III. Cách Phát Huy Vai Trò Cộng Đồng Trong Bảo Vệ Rừng Phù Yên

Bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng là biện pháp hiệu quả để chống lại các hành vi xâm hại rừng, như chặt phá, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép, săn bắt động vật rừng trái phép, phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR), phòng trừ sinh vật gây hại rừng, và bảo vệ hệ sinh thái rừng. Giải pháp này cần kết hợp luật tục, phong tục, tập quán, ý thức dân tộc, nhận thức, kiến thức của người dân, đặc điểm quan hệ gia đình, họ hàng, các tổ chức đoàn thể, làng bản, phù hợp với chính sách pháp luật của Nhà nước. Các tổ chức cộng đồng không phải là cơ quan quyền lực và cần sự hợp tác với các cơ quan chính quyền để giải quyết những vấn đề phức tạp.

3.1. Xây Dựng Quy Ước Hương Ước Bảo Vệ Rừng Cấp Thôn Bản

Xây dựng quy ước, hương ước bảo vệ rừng của thôn bản là một trong những giải pháp quan trọng để tăng cường vai trò của cộng đồng trong quản lý và bảo vệ rừng. Quy ước, hương ước cần quy định rõ quyền lợi và trách nhiệm của mọi người dân trong cộng đồng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Cần có sự tham gia của cộng đồng trong quá trình xây dựng và thực thi quy ước, hương ước.

3.2. Tăng Cường Hỗ Trợ Tài Chính Cho Quản Lý Rừng Cộng Đồng

Để khuyến khích cộng đồng tham gia tích cực vào công tác quản lý, bảo vệ rừng, cần có chính sách hỗ trợ tài chính phù hợp. Nguồn kinh phí có thể được sử dụng để chi trả cho các hoạt động tuần tra, bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng, trồng rừng và phát triển lâm nghiệp. Cần có cơ chế giám sát, quản lý chặt chẽ việc sử dụng nguồn kinh phí hỗ trợ.

3.3. Nâng Cao Nhận Thức Kỹ Năng Cho Người Dân Về Lâm Nghiệp

Tổ chức các lớp tập huấn, hội thảo, diễn đàn để nâng cao nhận thức và kỹ năng cho người dân về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Cung cấp thông tin về các quy định của pháp luật về lâm nghiệp. Hướng dẫn người dân về kỹ thuật trồng rừng, chăm sóc rừng, khai thác lâm sản bền vững. Tuyên truyền, vận động người dân tham gia vào các hoạt động bảo vệ rừng.

IV. Giải Pháp Kinh Tế Xã Hội Cho Bảo Vệ Rừng Cộng Đồng Sơn La

Bảo vệ rừng hiệu quả cần gắn liền với nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng dân cư thôn, bản. Công tác bảo vệ rừng phải đi đôi với phát triển kinh tế - xã hội và góp phần tăng thu nhập cho cộng đồng. Mấu chốt của vấn đề là vừa bảo vệ được tài nguyên rừng, vừa giải quyết tốt vấn đề nâng cao đời sống cho cộng đồng. Bảo vệ tài nguyên rừng không thể thành công nếu thiếu sự tham gia của cộng đồng. Các giải pháp cần nâng cao trách nhiệm và quyền lợi của cộng đồng trong bảo vệ rừng.

4.1. Phát Triển Sinh Kế Từ Rừng Cộng Đồng Bền Vững Phù Yên

Khuyến khích người dân tham gia vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh lâm sản ngoài gỗ như nấm, măng, dược liệu. Hỗ trợ người dân phát triển các mô hình nông lâm kết hợp, chăn nuôi dưới tán rừng. Tạo điều kiện cho người dân tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi để phát triển sản xuất. Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm lâm nghiệp cho người dân.

4.2. Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Cộng Đồng Gắn Với Bảo Vệ Rừng

Phát triển du lịch sinh thái cộng đồng là một trong những giải pháp quan trọng để tạo sinh kế cho người dân và nâng cao ý thức bảo vệ rừng. Xây dựng các sản phẩm du lịch sinh thái hấp dẫn, gắn với các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương. Đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch, đào tạo nguồn nhân lực du lịch cộng đồng. Quản lý chặt chẽ các hoạt động du lịch để đảm bảo không gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường rừng.

4.3. Vai Trò Của Người Dân Tộc Thiểu Số Trong Quản Lý Rừng

Người dân tộc thiểu số có vai trò quan trọng trong công tác quản lý và bảo vệ rừng, bởi họ là những người gắn bó mật thiết với rừng và có nhiều kinh nghiệm trong việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng. Cần phát huy vai trò của người dân tộc thiểu số trong các hoạt động quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Tôn trọng và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của người dân tộc thiểu số liên quan đến rừng.

V. Ứng Dụng Chính Sách Quản Lý Rừng Cộng Đồng Tại Sơn La

Để trao quyền quản lý bảo vệ rừng cho các cộng đồng, Nhà nước đã thực hiện chính sách giao đất, giao rừng. Đây là một trong những chính sách lớn tạo môi trường thuận lợi cho quản lý bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng ở Việt Nam. Chủ trương giao đất, khoán rừng đã được Đảng và Nhà nước ta đề ra và thực hiện từ năm 1968, qua mỗi giai đoạn phát triển, Nhà nước lại có những điều chỉnh, bổ sung kịp thời cho phù hợp với thực tế. Nhìn chung kết quả giao đất lâm nghiệp, giao rừng đã làm cho rừng có chủ thực sự, tạo ra nhiều hình thức sở hữu rừng, tạo điều kiện khai thác tiềm năng đất đai, lao động, tiền vốn tại chỗ.

5.1. Đánh Giá Tác Động Của Giao Đất Giao Rừng Đến Cộng Đồng

Việc giao đất, giao rừng cho cộng đồng đã tạo điều kiện cho người dân chủ động tham gia vào công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của người dân đối với tài nguyên rừng. Tạo nguồn thu nhập ổn định cho người dân từ các hoạt động lâm nghiệp. Tuy nhiên, việc giao đất, giao rừng cũng đặt ra những thách thức về quản lý, sử dụng đất và rừng một cách bền vững.

5.2. Hoàn Thiện Chính Sách Hỗ Trợ Quản Lý Rừng Bền Vững

Cần tiếp tục hoàn thiện chính sách giao đất, giao rừng để đảm bảo quyền lợi và trách nhiệm của cộng đồng trong quản lý và sử dụng rừng. Xây dựng cơ chế giám sát, đánh giá hiệu quả việc sử dụng đất và rừng sau khi giao cho cộng đồng. Tăng cường hỗ trợ kỹ thuật, tài chính cho cộng đồng để nâng cao năng lực quản lý rừng bền vững.

VI. Kết Luận và Triển Vọng Bảo Vệ Rừng Cộng Đồng Phù Yên

Quản lý bảo vệ rừng dựa trên cộng đồng là một giải pháp quan trọng để bảo vệ tài nguyên rừng tại huyện Phù Yên, Sơn La. Để thực hiện thành công giải pháp này, cần có sự tham gia tích cực của cộng đồng, sự hỗ trợ của các cấp chính quyền và các tổ chức liên quan, cũng như các chính sách phù hợp. Việc bảo vệ rừng không chỉ góp phần bảo vệ môi trường, mà còn tạo sinh kế bền vững cho người dân địa phương.

6.1. Bài Học Kinh Nghiệm Từ Các Mô Hình Thành Công

Nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm từ các mô hình quản lý rừng cộng đồng thành công trong và ngoài nước. Áp dụng linh hoạt các bài học kinh nghiệm phù hợp với điều kiện thực tế của huyện Phù Yên. Xây dựng và nhân rộng các mô hình quản lý rừng cộng đồng hiệu quả.

6.2. Đề Xuất Giải Pháp Để Phát Triển Bền Vững Tài Nguyên Rừng

Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ rừng. Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng chức năng và người dân trong công tác quản lý, bảo vệ rừng. Đầu tư vào công tác nghiên cứu khoa học để tìm ra các giải pháp quản lý rừng bền vững. Khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào các hoạt động phát triển lâm nghiệp bền vững.

28/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Ngành Lâm nghiệp nƣớc ta đang trong quá trình chuyển mạnh từ lâm nghiệp Nhà nƣớc sang lâm nghiệp xã hội. Trong quá trình chuyển đổi này đã và đang xuất hiện những nhân tố mới trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, trong đó cộng đồng dân cƣ thôn, bản, những ngƣời hiện đang sinh sống ở vùng rừng và gần rừng, đời sống kinh tế, xã hội của họ có quan hệ trực tiếp và gắn chặt với rừng, đây là một nhân tố tích cực và ngày càng có vị trí quan trọng trong hệ thống quản lý rừng cộng đồng. Vì vậy, phát huy vai trò tham gia của các cộng đồng dân cƣ thôn, bản để quản lý rừng là vấn đề vừa mang ý nghĩa phát huy truyền thống dân tộc, vừa tạo ra một cách quản lý rừng có hiệu quả hơn, bền vững hơn, phù hợp với những xu thế phát triển nghề rừng trên thế giới, đặc biệt là các nƣớc đang phát triển [2], [21]. Huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La là một huyện miền núi với lợi thế về tiềm năng đất đai, có tổng diện tích tự nhiên là: 123655ha, trong đó diện tích đất rừng là: 54538,17ha, chủ yếu là rừng tự nhiên.

Đây là nguồn tài nguyên quí gía và phong phú nhất của địa phƣơng. Phù Yên còn đƣợc biết đến với cánh đồng “Mường Tấc”, cánh đồng rộng thứ ba của vùng Tây Bắc: “Nhất Thanh - Nhì Lò - Tam Tấc - Tứ Than”. Tuy nhiên, trong nhiều năm qua do khai thác và sử dụng rừng chƣa hợp lý, hoạt động săn bắn và khai thác gỗ trái phép vẫn thƣờng xuyên xảy ra làm cho diện tích và chất lƣợng rừng tự nhiên của huyện ngày một suy giảm, thiếu ổn định, hạn hán, lũ lụt xảy ra hàng năm, gây nhiều thiệt hại cho hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp, diện tích đất ruộng cũng dần bị thu hẹp do thiếu nƣớc sản xuất,.dẫn đến tình trạng kinh tế chậm phát triển, đời sồng nhân dân nghèo nàn lạc hậu. Từ thực tế đã cho thấy, một trong những nguyên nhân chủ yếu gây mất rừng là thiếu sự tham gia tích cực của ngƣời cộng đồng dân cƣ địa phƣơng.

Không ít ngƣời thờ ơ với hoạt động xâm hại rừng, thậm trí còn trực tiếp tham gia vào hoạt động khai thác gỗ và động vật rừng. Công tác quản lý rừng không thể hiệu quả nếu chỉ đơn thuần dựa vào Nhà nƣớc, mà phải khuyến khích tham gia của cộng đồng. 2 Vấn đề là làm thế nào để phát huy đƣợc vai trò của cộng đồng tham gia vào quản lý bảo vệ rừng, cần có những giải pháp gì về kinh tế, xã hội, về khoa học công nghệ để xã hội hoá công tác này. Đây là vấn đề băn khoăn trăn trở không chỉ của những ngƣời trực tiếp làm công tác quản lý bảo vệ rừng mà của các cấp chính quyền địa phƣơng.

Nhằm góp phần bảo vệ tốt diện tích rừng hiện còn và nâng cao chất lƣợng cuộc sống cho ngƣời dân trên địa bàn huyện Phù Yên, trong khuôn khổ xây dựng luận văn Cao học, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng ở huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La”. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Nhận thức về quản lý bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng Cộng đồng là một tập hợp những ngƣời sống gắn bó với nhau thành một xã hội nhỏ có những điểm tƣơng đồng về mặt văn hoá, kinh tế, xã hội truyền thống, phong tục tập quán, có các quan hệ trong sản xuất và đời sống gắn bó với nhau và thƣờng có ranh giới không gian trong một thôn, bản. Theo quan niệm này, “cộng đồng” chính là “cộng đồng dân cƣ thôn bản”.

Tuy nhiên, trong phạm vi hẹp hơn còn bao gồm cả cộng đồng sắc tộc, cộng đồng các dòng họ, cộng đồng tôn giáo hoặc các nhóm hộ trong thôn bản. Mặc dù có những quan niệm khác nhau về cộng đồng, nhƣng phần lớn các ý kiến đều cho rằng “cộng đồng” đƣợc dùng trong quản lý rừng chính là nói đến cộng đồng dân cƣ thôn, bản. Tại Điều 3 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 đã định nghĩa “cộng đồng dân cƣ thôn là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tƣơng đƣơng” [12]. Trong nghiên cứu của đề tài này, cộng đồng đƣợc hiểu theo nghĩa là cộng đồng thôn, bản (kể cả các tổ chức đoàn thể trong cộng đồng).

Khái niệm về cộng đồng tham gia quản lý rừng Cộng đồng tham gia quản lý rừng cũng có thể thay thế bằng một từ chung nhất là lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ). Theo FAO, LNCĐ là thuật ngữ bao trùm diễn tả hàng loạt các hoạt động gắn ngƣời dân với rừng, cây, các sản phẩm của rừng và việc phân chia lợi ích các sản phẩm này. Hiện nay, ở Việt Nam có những quan điểm khác nhau về LNCĐ và chƣa có một định nghĩa chính thức nào đƣợc công nhận. Tuy nhiên, qua các cuộc hội thảo dƣờng nhƣ mọi ngƣời đều thống nhất ở Việt Nam, có hai hình thức quản lý rừng cộng đồng phù hợp với định nghĩa của FAO nhƣ sau: - Thứ nhất là quản lý rừng cộng đồng (QLRCĐ) 4 Đây là hình thức mà mọi thành viên của cộng đồng tham gia quản lý và ăn chia sản phẩm hoặc hƣởng lợi từ những khu rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của cộng đồng hoặc thuộc quyền sử dụng chung của cộng đồng.

Rừng của cộng đồng là rừng của làng bản đã đƣợc quản lý theo truyền thống lâu đời (rừng thiêng, rừng ma, rừng mó nƣớc…quản lý theo các luật tục truyền thống với tinh thần tự nguyện cao); rừng trồng của các hợp tác xã, rừng tự nhiên đuợc giao cho các hợp tác xã trƣớc đây, nay hợp tác xã giao lại cho các xã, hoặc các thôn quản lý; rừng đƣợc chính quyền địa phƣơng giao cho cộng đồng với tính chất thí điểm trong thời gian gần đây. - Thứ hai là quản lý rừng dựa vào cộng đồng Đây là hình thức cộng đồng tham gia quản lý các khu rừng không thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu chung của họ mà thuộc quyền quản lý, sử dụng sở hữu của các thành phần kinh tế khác nhƣng có quan hệ trực tiếp đến đời sống, đến việc làm, thu hoạch sản phẩm, thu nhập hay các lợi ích khác của cộng đồng (thuỷ lợi nhỏ, nước sinh hoạt…). Hình thức này bao gồm hai đối tƣợng: + Rừng của hộ gia đình, cá nhân là thành viên trong cộng đồng. Cộng đồng tham gia quản lý với tính chất hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau, chia xẻ lợi ích cùng nhau trên cơ sở tự nguyện (tạo thêm sức mạnh để bảo vệ rừng, hỗ trợ hoặc đổi công cho nhau trong các hoạt động lâm nghiệp…).

+ Rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của các tổ chức nhà nƣớc (các ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng, các lâm trường, công ty lâm nghiệp nhà nước, các trạm trại…) và các tổ chức tƣ nhân khác. Cộng đồng tham gia các hoạt động lâm nghiệp nhƣ bảo vệ, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, phục hồi rừng, trồng rừng với tƣ cách là ngƣời làm thuê thông qua các hợp đồng khoán và hƣởng lợi theo các cam kết trong hợp đồng. Từ sự phân tích trên đây cho thấy, LNCĐ, QLRCĐ là những khái niệm khác nhau. Thuật ngữ QLRCĐ đƣợc sử dụng với ý nghĩa hẹp hơn để chỉ CĐ quản lý những khu rừng của một cộng đồng dân cƣ, còn nói đến LNCĐ hay 5 cộng đồng tham gia quản lý rừng chính là diễn tả hàng loạt các hoạt động gắn ngƣời dân trong cộng đồng dân cƣ thôn bản với rừng, cây, các sản phẩm của rừng và việc phân chia lợi ích từ rừng.

Hay nói cách khác, LNCĐ là một hình thức quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát triển rừng do cộng đồng dân cƣ thôn bản thực hiện bao gồm cả rừng của cộng đồng và rừng của các thành phần kinh tế khác. Với cách hiểu nhƣ vậy, nên chấp nhận LNCĐ bao gồm cả quản lý rừng cộng đồng (cộng đồng quản lý rừng của cộng đồng) và quản lý rừng dựa vào cộng đồng (cộng đồng quản lý rừng của các chủ rừng khác). Khái niệm này vừa phù hợp với định nghĩa của FAO vừa phát huy đƣợc nhiều hơn sự đóng góp của cộng đồng vào quản lý, bảo vệ, xây dựng và phát triển rừng [21], [37], [38]. BVR trên cơ sở cộng đồng là BVR mà phát huy đƣợc những nội lực của cộng đồng cho các hoạt động chống lại sự xâm hại đến rừng nhƣ: chống chặt, phá, lấn chiếm rừng, đất rừng, khai thác lâm sản, săn, bẫy, bắt động vật rừng trái phép, phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR), phòng trừ sinh vật gây hại rừng, bảo vệ hệ sinh thái rừng và đƣợc thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý lâm sản.

Những giải pháp BVR trên cơ sở cộng đồng luôn chứa đựng những sắc thái của luật tục, phong tục, tập quán, ý thức dân tộc, nhận thức, kiến thức của ngƣời dân, đặc điểm quan hệ gia đình, họ hàng, các tổ chức đoàn thể, làng bản phù họp với chính sách pháp luật của Nhà nƣớc. Vai trò của chính sách Nhà nước đối với BVR trên cơ sở cộng đồng BVR trên cơ sở cộng đồng đƣợc xây dựng dựa trên cơ sở phong tục, tập quán, kiến thức và thể chế bản địa của ngƣời dân địa phƣơng. Tuy nhiên, có những phong tục tập quán phù hợp với yêu cầu quản lý bền vững tài nguyên rừng, nhƣng cũng có những phong tục tập quán ngƣợc lại với yêu cầu quản lý bền vững tài nguyên rừng. Do đó, quản lý BVR trên cơ sở cộng đồng phải hƣớng và phát huy đƣợc những phong tục tập quán có lợi và giảm dần những phong tục tập quán cản trở đến quản lý bền vững tài nguyên rừng [24].

6 BVR trên cơ sở cộng đồng sẽ không thể thực hiện đƣợc nếu thiếu sự hậu thuẫn của các chính sách và thể chế Nhà nƣớc. Các tổ chức cộng đồng không phải là cơ quan quyền lực, không có công cụ chuyên chính riêng. Trong nhiều trƣờng hợp, tổ chức cộng đồng không giải quyết đƣợc một cách triệt để những vấn đề phức tạp của quản lý BVR. Khi đó các tổ chức cộng đồng phải hợp tác với các cơ quan chính quyền để giải quyết những vấn đề vƣợt khỏi quyền hạn của mình.

Vì vậy, các qui định của cộng đồng phải đƣợc xây dựng trên cơ sở tính đến sự hỗ trợ của các chính sách và thể chế hiện thời của Nhà nƣớc, không trái với các qui định của Nhà nƣớc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Giải Pháp Quản Lý Bảo Vệ Rừng Dựa Trên Cộng Đồng Tại Huyện Phù Yên, Sơn La" trình bày những phương pháp hiệu quả trong việc quản lý và bảo vệ rừng thông qua sự tham gia của cộng đồng địa phương. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp giữa chính sách và thực tiễn để nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người dân trong việc bảo vệ tài nguyên rừng. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích thiết thực từ việc áp dụng các giải pháp này, không chỉ cho môi trường mà còn cho sinh kế của cộng đồng.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Chi trả dịch vụ môi trường rừng và sinh kế cộng đồng, nơi nghiên cứu trường hợp tại xã Chiềng Cọ, Sơn La. Ngoài ra, tài liệu Đánh giá tác động chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về ảnh hưởng của chính sách đến sinh kế của người dân. Cuối cùng, tài liệu Nghiên cứu cơ sở thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng tại huyện Trùng Khánh, Cao Bằng cũng là một nguồn tài liệu quý giá để bạn tìm hiểu thêm về quản lý rừng dựa trên cộng đồng.