ĐẶT VẤN ĐỀ Ngành Lâm nghiệp nƣớc ta đang trong quá trình chuyển mạnh từ lâm nghiệp Nhà nƣớc sang lâm nghiệp xã hội. Trong quá trình chuyển đổi này đã và đang xuất hiện những nhân tố mới trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, trong đó cộng đồng dân cƣ thôn, bản, những ngƣời hiện đang sinh sống ở vùng rừng và gần rừng, đời sống kinh tế, xã hội của họ có quan hệ trực tiếp và gắn chặt với rừng, đây là một nhân tố tích cực và ngày càng có vị trí quan trọng trong hệ thống quản lý rừng cộng đồng. Vì vậy, phát huy vai trò tham gia của các cộng đồng dân cƣ thôn, bản để quản lý rừng là vấn đề vừa mang ý nghĩa phát huy truyền thống dân tộc, vừa tạo ra một cách quản lý rừng có hiệu quả hơn, bền vững hơn, phù hợp với những xu thế phát triển nghề rừng trên thế giới, đặc biệt là các nƣớc đang phát triển [2], [21]. Huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La là một huyện miền núi với lợi thế về tiềm năng đất đai, có tổng diện tích tự nhiên là: 123655ha, trong đó diện tích đất rừng là: 54538,17ha, chủ yếu là rừng tự nhiên.
Đây là nguồn tài nguyên quí gía và phong phú nhất của địa phƣơng. Phù Yên còn đƣợc biết đến với cánh đồng “Mường Tấc”, cánh đồng rộng thứ ba của vùng Tây Bắc: “Nhất Thanh - Nhì Lò - Tam Tấc - Tứ Than”. Tuy nhiên, trong nhiều năm qua do khai thác và sử dụng rừng chƣa hợp lý, hoạt động săn bắn và khai thác gỗ trái phép vẫn thƣờng xuyên xảy ra làm cho diện tích và chất lƣợng rừng tự nhiên của huyện ngày một suy giảm, thiếu ổn định, hạn hán, lũ lụt xảy ra hàng năm, gây nhiều thiệt hại cho hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp, diện tích đất ruộng cũng dần bị thu hẹp do thiếu nƣớc sản xuất,.dẫn đến tình trạng kinh tế chậm phát triển, đời sồng nhân dân nghèo nàn lạc hậu. Từ thực tế đã cho thấy, một trong những nguyên nhân chủ yếu gây mất rừng là thiếu sự tham gia tích cực của ngƣời cộng đồng dân cƣ địa phƣơng.
Không ít ngƣời thờ ơ với hoạt động xâm hại rừng, thậm trí còn trực tiếp tham gia vào hoạt động khai thác gỗ và động vật rừng. Công tác quản lý rừng không thể hiệu quả nếu chỉ đơn thuần dựa vào Nhà nƣớc, mà phải khuyến khích tham gia của cộng đồng. 2 Vấn đề là làm thế nào để phát huy đƣợc vai trò của cộng đồng tham gia vào quản lý bảo vệ rừng, cần có những giải pháp gì về kinh tế, xã hội, về khoa học công nghệ để xã hội hoá công tác này. Đây là vấn đề băn khoăn trăn trở không chỉ của những ngƣời trực tiếp làm công tác quản lý bảo vệ rừng mà của các cấp chính quyền địa phƣơng.
Nhằm góp phần bảo vệ tốt diện tích rừng hiện còn và nâng cao chất lƣợng cuộc sống cho ngƣời dân trên địa bàn huyện Phù Yên, trong khuôn khổ xây dựng luận văn Cao học, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng ở huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La”. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Nhận thức về quản lý bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng Cộng đồng là một tập hợp những ngƣời sống gắn bó với nhau thành một xã hội nhỏ có những điểm tƣơng đồng về mặt văn hoá, kinh tế, xã hội truyền thống, phong tục tập quán, có các quan hệ trong sản xuất và đời sống gắn bó với nhau và thƣờng có ranh giới không gian trong một thôn, bản. Theo quan niệm này, “cộng đồng” chính là “cộng đồng dân cƣ thôn bản”.
Tuy nhiên, trong phạm vi hẹp hơn còn bao gồm cả cộng đồng sắc tộc, cộng đồng các dòng họ, cộng đồng tôn giáo hoặc các nhóm hộ trong thôn bản. Mặc dù có những quan niệm khác nhau về cộng đồng, nhƣng phần lớn các ý kiến đều cho rằng “cộng đồng” đƣợc dùng trong quản lý rừng chính là nói đến cộng đồng dân cƣ thôn, bản. Tại Điều 3 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 đã định nghĩa “cộng đồng dân cƣ thôn là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tƣơng đƣơng” [12]. Trong nghiên cứu của đề tài này, cộng đồng đƣợc hiểu theo nghĩa là cộng đồng thôn, bản (kể cả các tổ chức đoàn thể trong cộng đồng).
Khái niệm về cộng đồng tham gia quản lý rừng Cộng đồng tham gia quản lý rừng cũng có thể thay thế bằng một từ chung nhất là lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ). Theo FAO, LNCĐ là thuật ngữ bao trùm diễn tả hàng loạt các hoạt động gắn ngƣời dân với rừng, cây, các sản phẩm của rừng và việc phân chia lợi ích các sản phẩm này. Hiện nay, ở Việt Nam có những quan điểm khác nhau về LNCĐ và chƣa có một định nghĩa chính thức nào đƣợc công nhận. Tuy nhiên, qua các cuộc hội thảo dƣờng nhƣ mọi ngƣời đều thống nhất ở Việt Nam, có hai hình thức quản lý rừng cộng đồng phù hợp với định nghĩa của FAO nhƣ sau: - Thứ nhất là quản lý rừng cộng đồng (QLRCĐ) 4 Đây là hình thức mà mọi thành viên của cộng đồng tham gia quản lý và ăn chia sản phẩm hoặc hƣởng lợi từ những khu rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của cộng đồng hoặc thuộc quyền sử dụng chung của cộng đồng.
Rừng của cộng đồng là rừng của làng bản đã đƣợc quản lý theo truyền thống lâu đời (rừng thiêng, rừng ma, rừng mó nƣớc…quản lý theo các luật tục truyền thống với tinh thần tự nguyện cao); rừng trồng của các hợp tác xã, rừng tự nhiên đuợc giao cho các hợp tác xã trƣớc đây, nay hợp tác xã giao lại cho các xã, hoặc các thôn quản lý; rừng đƣợc chính quyền địa phƣơng giao cho cộng đồng với tính chất thí điểm trong thời gian gần đây. - Thứ hai là quản lý rừng dựa vào cộng đồng Đây là hình thức cộng đồng tham gia quản lý các khu rừng không thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu chung của họ mà thuộc quyền quản lý, sử dụng sở hữu của các thành phần kinh tế khác nhƣng có quan hệ trực tiếp đến đời sống, đến việc làm, thu hoạch sản phẩm, thu nhập hay các lợi ích khác của cộng đồng (thuỷ lợi nhỏ, nước sinh hoạt…). Hình thức này bao gồm hai đối tƣợng: + Rừng của hộ gia đình, cá nhân là thành viên trong cộng đồng. Cộng đồng tham gia quản lý với tính chất hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau, chia xẻ lợi ích cùng nhau trên cơ sở tự nguyện (tạo thêm sức mạnh để bảo vệ rừng, hỗ trợ hoặc đổi công cho nhau trong các hoạt động lâm nghiệp…).
+ Rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của các tổ chức nhà nƣớc (các ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng, các lâm trường, công ty lâm nghiệp nhà nước, các trạm trại…) và các tổ chức tƣ nhân khác. Cộng đồng tham gia các hoạt động lâm nghiệp nhƣ bảo vệ, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, phục hồi rừng, trồng rừng với tƣ cách là ngƣời làm thuê thông qua các hợp đồng khoán và hƣởng lợi theo các cam kết trong hợp đồng. Từ sự phân tích trên đây cho thấy, LNCĐ, QLRCĐ là những khái niệm khác nhau. Thuật ngữ QLRCĐ đƣợc sử dụng với ý nghĩa hẹp hơn để chỉ CĐ quản lý những khu rừng của một cộng đồng dân cƣ, còn nói đến LNCĐ hay 5 cộng đồng tham gia quản lý rừng chính là diễn tả hàng loạt các hoạt động gắn ngƣời dân trong cộng đồng dân cƣ thôn bản với rừng, cây, các sản phẩm của rừng và việc phân chia lợi ích từ rừng.
Hay nói cách khác, LNCĐ là một hình thức quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát triển rừng do cộng đồng dân cƣ thôn bản thực hiện bao gồm cả rừng của cộng đồng và rừng của các thành phần kinh tế khác. Với cách hiểu nhƣ vậy, nên chấp nhận LNCĐ bao gồm cả quản lý rừng cộng đồng (cộng đồng quản lý rừng của cộng đồng) và quản lý rừng dựa vào cộng đồng (cộng đồng quản lý rừng của các chủ rừng khác). Khái niệm này vừa phù hợp với định nghĩa của FAO vừa phát huy đƣợc nhiều hơn sự đóng góp của cộng đồng vào quản lý, bảo vệ, xây dựng và phát triển rừng [21], [37], [38]. BVR trên cơ sở cộng đồng là BVR mà phát huy đƣợc những nội lực của cộng đồng cho các hoạt động chống lại sự xâm hại đến rừng nhƣ: chống chặt, phá, lấn chiếm rừng, đất rừng, khai thác lâm sản, săn, bẫy, bắt động vật rừng trái phép, phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR), phòng trừ sinh vật gây hại rừng, bảo vệ hệ sinh thái rừng và đƣợc thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý lâm sản.
Những giải pháp BVR trên cơ sở cộng đồng luôn chứa đựng những sắc thái của luật tục, phong tục, tập quán, ý thức dân tộc, nhận thức, kiến thức của ngƣời dân, đặc điểm quan hệ gia đình, họ hàng, các tổ chức đoàn thể, làng bản phù họp với chính sách pháp luật của Nhà nƣớc. Vai trò của chính sách Nhà nước đối với BVR trên cơ sở cộng đồng BVR trên cơ sở cộng đồng đƣợc xây dựng dựa trên cơ sở phong tục, tập quán, kiến thức và thể chế bản địa của ngƣời dân địa phƣơng. Tuy nhiên, có những phong tục tập quán phù hợp với yêu cầu quản lý bền vững tài nguyên rừng, nhƣng cũng có những phong tục tập quán ngƣợc lại với yêu cầu quản lý bền vững tài nguyên rừng. Do đó, quản lý BVR trên cơ sở cộng đồng phải hƣớng và phát huy đƣợc những phong tục tập quán có lợi và giảm dần những phong tục tập quán cản trở đến quản lý bền vững tài nguyên rừng [24].
6 BVR trên cơ sở cộng đồng sẽ không thể thực hiện đƣợc nếu thiếu sự hậu thuẫn của các chính sách và thể chế Nhà nƣớc. Các tổ chức cộng đồng không phải là cơ quan quyền lực, không có công cụ chuyên chính riêng. Trong nhiều trƣờng hợp, tổ chức cộng đồng không giải quyết đƣợc một cách triệt để những vấn đề phức tạp của quản lý BVR. Khi đó các tổ chức cộng đồng phải hợp tác với các cơ quan chính quyền để giải quyết những vấn đề vƣợt khỏi quyền hạn của mình.
Vì vậy, các qui định của cộng đồng phải đƣợc xây dựng trên cơ sở tính đến sự hỗ trợ của các chính sách và thể chế hiện thời của Nhà nƣớc, không trái với các qui định của Nhà nƣớc.