CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm văn hóa doanh nghiệp 1. Khái niệm Trong thời đại bùng nổ cuộc “cách mạng truyền thông” (cuối thế kỷ 20) và thời đại “Toàn Cầu Hóa” hiện nay (Thế Kỷ 21) đề tài văn hóa, khái niệm văn hóa, nội dung và bản sắc văn hóa dân tộc, hay “thời đại văn hóa”, “toàn cầu hóa” v. không những đã trở thành quá phổ thông, mà còn được các bộ môn khoa học nhân văn không ngừng nghiên cứu và đào sâu hơn bao giờ hết….
Tuy nhiên cũng không có một danh từ nào bao la và khó định nghĩa như danh từ văn hóa. Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau. Ngay từ năm 1952, hai nhà nhân loại học Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn trong tác phẩm “Culture- a critical review of concepts and definitions” (Văn Hóa - tổng luận phê phán các quan niệm và định nghĩa) đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới. Trong lần xuất bản thứ hai của cuốn sách trên, số định nghĩa đã được cập nhật lên tới 200.
Cho đến nay số lượng định nghĩa về văn hóa không biết đã tăng lên bao nhiêu. Văn hóa được đề cập đến trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như dân tộc học, nhân loại học (theo cách gọi của Mỹ hoặc dân tộc học hiện đại theo cách gọi của châu Âu), dân gian học, địa văn hóa học, văn hóa học, xã hội học,.và trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó định nghĩa về văn hóa cũng khác nhau. Việc có nhiều khái niệm văn hóa khác nhau giúp chúng ta hiểu biết vấn đề một cách phong phú, đa dạng và toàn diện hơn. Năm 1871, nhà phân chủng học người Anh E.
Taylor đưa ra định nghĩa: “Văn hóa là một tổng thể phức tạp gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục và tất cả những khả năng, thói quen, tập quán mà con người đạt được với tư cách là một thành viên của xã hội”. Tuy danh từ văn hóa đã xuất hiện khá sớm trong đời sống ngôn ngữ ở cả phương Đông và phương Tây, nhưng phần 4 Trần Thị Hằng 2021 Khóa Luận Tốt Nghiệp lớn các nhà nghiên cứu Văn hóa đều xem đây là định nghĩa khoa học đầu tiên về khái niệm văn hóa. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như vì mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương tiện, phương thức sử dụng toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống, và đòi hỏi của sự sinh tồn”.
Định nghĩa của Hồ Chí Minh giúp chúng ta hiểu văn hóa cụ thể và đầy đủ hơn. Suy cho cùng, mọi hoạt động của con người trước hết đều “vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống”, những hoạt động sống đó trải qua thực tiễn và thời gian được lặp đi, lặp lại thành những thói quen, tập quán, chắt lọc thành những chuẩn mực, những giá trị vật chất và tinh thần được tích lũy, lưu truyền từ đời này qua đời khác thành kho tàng quý giá mang bản sắc riêng của mỗi cộng đồng, góp lại mà thành di sản văn hóa của toàn nhân loại. Herriot: “Văn hóa là cái còn lại sau khi người ta đã quên đi tất cả, là cái vẫn còn thiếu sau khi đã học hết tất cả”. Đây là một định nghĩa hay và vô cùng sâu sắc, độc đáo.
Hay, vì tác giả không cần định nghĩa văn hóa sao cho đầy đủ mà chỉ lưu tâm đến cái thuộc về bản chất của Văn hóa mà thôi. Vô cùng độc đáo và sâu sắc vì: tác giả nêu lên hai điểm thuộc về đặc tính của Văn Hóa: “Cái Còn lại” “sau khi quên”- “đã học” mà “vẫn thiếu”. Văn hóa là “cái còn lại” sau khi người ta đã quên tất cả. Đã quên tất cả thì đâu còn nhớ điều gì.
Nhưng cái muốn quên mà không quên được vì nó đã đi vào tiềm thức của con người. Điều kỳ diệu thứ hai: “Muốn tìm hiểu văn hóa người ta phải đọc học tất cả. Khi đã đọc học tất cả, người ta tưởng là đã hiểu được văn hóa là gì. Nhưng không.
Khi đã học tất cả rồi người ta vẫn cảm thấy “Thiếu” cần phải “học thêm nữa”. Như vậy, văn hóa rất rộng lớn, bao la, khó có thể học hết và hiểu hết. UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa vào năm 2002 như sau: “Văn hóa là một phức thể, tổng thể các đặc trưng, diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, linh cảm, … khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, quốc gia, 5 Trần Thị Hằng 2021 Khóa Luận Tốt Nghiệp xã hội…Văn hóa không chỉ là nghệ thuật, văn chương và cả những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…”. Định nghĩa này nhấn mạnh vào hoạt động sáng tạo của các cộng đồng người gắn liền với tiến trình phát triển có tính lịch sử của mỗi cộng đồng trải qua một thời gian dài tạo nên những giá trị có tính nhân văn phổ quát, đồng thời có tính đặc thù của mỗi cộng đồng, bản sắc riêng của từng dân tộc.
Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào định nghĩa có tính khái quát này, trong hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa, chúng ta dễ bị hiểu một cách sai lạc: Quản lý văn hóa là quản lý các hoạt động sáng tạo và thu hẹp hơn nữa là quản lý sáng tác văn học nghệ thuật. Thực tế quản lý văn hóa không phải như vậy, quản lý văn hóa ở cấp xã lại càng không phải chỉ có thế. Nhìn nhận từ một góc độ khác, Bùi Xuân Phong (2009) cho rằng: “Văn hóa là toàn bộ những hoạt động vật chất và tinh thần mà loài người đã sáng tạo ra trong lịch sử của mình trong quan hệ với con người, với tự nhiên và với xã hội, được đúc kết lại thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội. Nói tới văn hóa là nói tới con người, nói tới việc phát huy những năng lực bản chất của con người nhằm hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội.
Có thể nói văn hóa là tất cả những gì gắn liền với con người, ý thức con người để rồi lại trở về với chính nó”. Từ tất cả những quan điểm trên, ta có thể hiểu một cách khái quát nhất: “Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mà loài người tạo ra trong quá trình lịch sử”. Khái niệm văn hóa rất rộng, trong đó những giá trị vật chất và tinh thần được sử dụng làm nền tảng định hướng cho lối sống, đạo lý tâm hồn và hành động của mỗi dân tộc và các thành viên để vươn tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp, trong mối quan hệ giữa người và người, giữa người với tự nhiên và môi trường xã hội. Những nét đặc trưng của văn hóa Văn hóa mang tính tập quán: Hệ thống các giá trị của văn hoá kinh doanh sẽ quy định những hành vi được chấp nhận hay không được chấp nhận trong một hoạt động hay môi trường kinh doanh cụ thể.
Có những tập quán kinh doanh đẹp tồn tại lâu đời như một sự khẳng định những nét độc đáo như tập quán chăm lo đến đời sống riêng tư của người lao động trong các doanh nghiệp Nhật Bản, tập quán “mời trầu” của người Việt Nam, tập quán cung cấp các dịch vụ sau bán hàng cho khách của các doanh nghiệp hiện đại. Tuy nhiên, cũng có những tập quán không dễ gì cảm 6 Trần Thị Hằng 2021 Khóa Luận Tốt Nghiệp thông ngay như tập quán đàm phán và ký kết hợp đồng trên bàn tiệc của nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam. Văn hóa mang tính cộng đồng: Văn hóa không thể tồn tại do chính bản thân nó mà phải dựa vào sự tạo dựng, tác động qua lại và củng cố của mọi thành viên trong xã hội. Văn hóa như là một sự quy ước chung cho các thành viên trong cộng đồng.
Đó là những giá trị, những lề thói, những tập tục… mà các thành viên trong cộng đồng cùng tuân theo một cách rất tự nhiên, không cần phải ép buộc. Nếu một người nào đó làm khác đi sẽ bị cộng đồng lên án hoặc xa lánh tuy rằng xét về mặt pháp lý những việc làm đó không trái pháp luật. Văn hóa mang tính dân tộc: Văn hóa tạo nên nếp suy nghĩ và cảm nhận chung của từng dân tộc mà người dân tộc khác không dễ gì hiểu được. Mỗi dân tộc đều mang một nền văn hóa rất riêng, không thể lẫn với các dân tộc khác.
Vì vậy, cùng một thông điệp mà ở những nước khác nhau có thể mang ý nghĩa hoàn toàn khác nhau. Ta có thể lấy một ví dụ đơn giản như sau: Dấu hiệu giơ ngón tay ký hiệu “OK” ở Việt Nam dùng khá phổ biến với nghĩa là đồng ý, tán thành một việc gì đó, hoặc ra hiệu cho việc mọi thứ đã sẵn sàng. Tuy nhiên, dấu hiệu này tại Pháp lại có nghĩa là “không” hay “vô nghĩa”. Văn hóa có tính chủ quan: Con người ở các nền văn hóa khác nhau có suy nghĩ, đánh giá khác nhau về cùng một sự việc.
Vì vậy, văn hóa sẽ là khác nhau trong từng quốc gia, khu vực, từng hoàn cảnh mà con người phải đối diện. Văn hóa có tính khách quan: Văn hóa thể thể hiện quan điểm chủ quan của từng dân tộc, nhưng lại có cả một quá trình hình thành mang tính lịch sử, xã hội được chia sẻ và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của mỗi người. Văn hóa tồn tại khách quan ngay cả với các thành viên trong cộng đồng. Văn hóa có tính kế thừa: Văn hóa là sự tích tụ hàng trăm, ngàn năm của tất cả hoàn cảnh.
Mỗi thế hệ đều cộng thêm đặc trưng riêng của mình vào nền văn hóa dân tộc trước khi truyền lại cho thế hệ sau. Thế hệ sau thì học hỏi, tiếp thu, chắt lọc và áp dụng văn hóa từ thế hệ trước truyền lại. Sự sàng lọc và tích tụ qua thời gian đã làm cho vốn văn hóa của một dân tộc trở nên giàu có, phong phú và tinh khiết hơn.