Tổng quan nghiên cứu

Năm 2008, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt 63,5 tỷ USD, tăng trưởng 30,8% so với năm 2007 và vượt 8,8% so với kế hoạch đề ra, tiếp tục khẳng định vai trò là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc gia. Tuy nhiên, trước bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng nổ làm suy giảm sức cầu quốc tế cùng các cam kết khắt khe khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước phải đối mặt với áp lực cạnh tranh khốc liệt và tình trạng thiếu hụt nguồn vốn lưu động. Tín dụng xuất khẩu của Nhà nước do Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) làm đầu mối triển khai đóng vai trò là công cụ tài chính công thiết yếu nhằm trợ lực cho doanh nghiệp.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về tín dụng xuất khẩu của Nhà nước, đánh giá toàn diện kết quả thực hiện chính sách theo Quyết định 133/2001/QĐ-TTg và Nghị định 151/2006/NĐ-CP tại VDB trong giai đoạn 2001 - 2008. Từ việc nhận diện những thành tựu đạt được cùng các điểm nghẽn về cơ cấu sản phẩm và quản trị rủi ro, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp tài chính mang tính khả thi cao nhằm hoàn thiện cơ chế tín dụng xuất khẩu đến năm 2010 và định hướng năm 2020.

Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc nâng cao hiệu quả phân bổ vốn ngân sách, giúp VDB duy trì tỷ lệ nợ quá hạn ở mức an toàn dưới 1,0% và gia tăng số lượng doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn ưu đãi, góp phần hiện thực hóa mục tiêu chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất khẩu sang các nhóm ngành có hàm lượng công nghệ cao.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu dựa trên nền tảng lý thuyết thất bại thị trường (Market Failure Theory), giải thích sự cần thiết của các tổ chức tín dụng xuất khẩu chính thức (ECA) khi các ngân hàng thương mại ngần ngại cấp vốn cho những giao dịch ngoại thương quy mô lớn hoặc có độ rủi ro cao. Trên phạm vi toàn cầu, các ECA hiện đang cung cấp tài trợ và bảo hiểm cho khối lượng giao dịch thương mại trị giá khoảng 340 tỷ USD, trong đó dành 55 tỷ USD cho các dự án tại các nước đang phát triển và 14 tỷ USD cho dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng các chuẩn mực pháp lý quốc tế khắt khe điều chỉnh hoạt động tín dụng xuất khẩu:

  • Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp bù trừ (Hiệp định SCM) của WTO: Điều chỉnh và kiểm soát các hình thức hỗ trợ tài chính nhằm ngăn chặn hành vi trợ cấp xuất khẩu bị cấm quy định tại Điều 3 cùng các điểm j, k trong danh mục phụ lục.
  • Thỏa thuận về tín dụng xuất khẩu có sự hỗ trợ của Nhà nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD): Thiết lập mức vốn đối ứng bắt buộc tối thiểu 15% từ nhà nhập khẩu, giới hạn mức hỗ trợ tài chính tối đa của Nhà nước ở mức 85% giá trị hợp đồng và áp dụng tỷ lệ lãi suất thương mại tham chiếu (TICR) căn cứ theo lợi suất trái phiếu chính phủ.
  • Bộ quy tắc của Liên minh Berne: Khung liên kết giữa 90 tổ chức bảo hiểm tín dụng và đầu tư quốc tế về thời hạn hoàn trả tối đa 6 tháng đối với hàng hóa nông nghiệp và các điều kiện thanh toán chuẩn mực.
  • Các khái niệm cốt lõi: Tín dụng người bán, tín dụng người mua, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng và bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập từ các báo cáo kết quả hoạt động nghiệp vụ của VDB, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước trong suốt chuỗi thời gian 8 năm từ năm 2001 đến năm 2008. Dữ liệu thực nghiệm được bổ sung từ kết quả khảo sát thực tế vào tháng 9/2007 do Ngân hàng Xuất Nhập khẩu Hàn Quốc (KEXIM) phối hợp với VDB thực hiện đối với các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam.

Quy mô mẫu nghiên cứu bao quát dữ liệu tín dụng của 360 khách hàng doanh nghiệp phát sinh quan hệ vay vốn tại toàn bộ 44 chi nhánh VDB trên toàn quốc tính đến năm 2008. Phương pháp chọn mẫu kết hợp giữa khảo sát toàn bộ tổng thể hồ sơ tín dụng thực tế và phân tích nhóm trường hợp điển hình.

Lý do lựa chọn phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian và mô hình ma trận SWOT (Điểm mạnh, Điểm yếu, Cơ hội, Thách thức) là nhằm bóc tách chính xác tác động của các thay đổi thể chế giữa Quyết định 133/2001/QĐ-TTg và Nghị định 151/2006/NĐ-CP. Phương pháp này hỗ trợ đánh giá toàn diện cả về năng lực tài chính, chi phí huy động vốn cũng như rủi ro tập trung danh mục của VDB.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng tín dụng xuất khẩu ghi nhận sự bứt phá vượt bậc về quy mô. Doanh số cho vay tăng từ mức khiêm tốn 167 tỷ đồng năm 2001 lên 10.755 tỷ đồng năm 2005. Sau giai đoạn điều chỉnh chính sách năm 2006 - 2007 khi chuyển đổi mô hình từ Quỹ Hỗ trợ phát triển sang VDB, doanh số năm 2008 đã vọt lên con số kỷ lục 27.275 tỷ đồng, tăng gần gấp 3 lần so với năm 2007. Dư nợ tín dụng tại thời điểm ngày 31/12/2008 đạt 13.376 tỷ đồng, tăng gấp 2,4 lần so với mức dư nợ của năm 2007.

Thứ hai, cơ cấu thành phần kinh tế tiếp cận vốn có sự chuyển biến tích cực theo hướng bình đẳng hóa. Nếu như năm 2001, các doanh nghiệp nhà nước chiếm tuyệt đối hơn 80% tổng doanh số vay vốn thì đến năm 2008, tỷ trọng này đã phân bổ đều hơn:

  • Doanh nghiệp nhà nước: 9.011 tỷ đồng (chiếm 37,2% tổng doanh số).
  • Công ty cổ phần: 8.600 tỷ đồng (chiếm 35,5%).
  • Công ty trách nhiệm hữu hạn: 5.426 tỷ đồng (chiếm 22,4%).
  • Doanh nghiệp tư nhân và hợp tác xã: Đạt 1.187 tỷ đồng.

Thứ ba, danh mục cho vay thể hiện mức độ tập trung ngành hàng rất cao. Nhóm hàng nông, lâm, thủy sản luôn chiếm tỷ trọng chi phối với doanh số cho vay năm 2008 đạt 18.873 tỷ đồng (chiếm 69,2% tổng doanh số) và dư nợ đạt 5.118 tỷ đồng. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như gạo, cà phê, hạt điều và thủy sản chiếm trên 60% tổng dư nợ. Đáng chú ý, các khoản cho vay theo chỉ định của Chính phủ chiếm tỷ trọng lớn từ 30% đến 40% tổng dư nợ toàn hệ thống, điển hình như chương trình xuất khẩu sang Cuba đạt dư nợ gần 730 tỷ đồng và cam kết đóng tàu xuất khẩu của Vinashin từ 3.000 đến 5.000 tỷ đồng.

Thứ tư, sự mất cân đối nghiêm trọng về cơ cấu sản phẩm và phạm vi khách hàng. Nghiệp vụ thực tế duy nhất phát sinh là cho vay ngắn hạn người xuất khẩu. Các nghiệp vụ như bảo lãnh tín dụng xuất khẩu, bảo lãnh dự thầu hay tín dụng người mua chưa triển khai được trong thực tế. Số lượng khách hàng toàn hệ thống năm 2008 chỉ đạt 360 đơn vị (trong đó có 90 khách hàng mới), quá nhỏ bé so với quy mô hàng chục nghìn doanh nghiệp xuất khẩu của cả nước.

Thảo luận kết quả

Sự gia tăng đột biến của doanh số cho vay trong năm 2008 bắt nguồn từ việc Nghị định 151/2006/NĐ-CP đã tháo gỡ nhiều rào cản pháp lý: giảm tỷ lệ tài sản bảo đảm tối thiểu từ 30% xuống còn 15%, nâng mức cho vay tối đa lên 85% giá trị hợp đồng xuất khẩu và áp dụng cơ chế cấp hạn mức tín dụng linh hoạt. Trong giai đoạn các ngân hàng thương mại thắt chặt tiền tệ và đẩy lãi suất cho vay vượt mức 20%/năm, mức lãi suất ổn định 16,2%/năm của VDB đã trở thành điểm tựa thanh khoản lớn cho các doanh nghiệp.

Tuy nhiên, tốc độ giải ngân bị ảnh hưởng tiêu cực trong giai đoạn 2006 - 2007 do sự chậm trễ trong công tác ban hành văn bản dưới luật. Sau khi Nghị định 151 ban hành vào tháng 12/2006, phải mất 6 tháng Bộ Tài chính mới ban hành Thông tư hướng dẫn và mất thêm 9 tháng để VDB ban hành Sổ tay nghiệp vụ vào tháng 3/2008. Điều này làm gián đoạn việc tiếp cận khách hàng mới của các chi nhánh.

Để hình dung rõ nét xu hướng phát triển, dữ liệu tăng trưởng doanh số và dư nợ giai đoạn 2001 - 2008 có thể được minh họa trực quan qua biểu đồ dạng cột kép kết hợp đường xu hướng thể hiện sự mở rộng quy mô. Đồng thời, một biểu đồ hình tròn phân bổ tỷ trọng dư nợ theo 5 nhóm ngành hàng năm 2008 sẽ làm nổi bật rõ nét rủi ro tập trung quá mức vào nhóm nông sản và các dự án chỉ định. So với các mô hình ECA thành công như KEXIM (Hàn Quốc) hay JBIC (Nhật Bản), VDB còn hạn chế do thiếu vắng sản phẩm bảo hiểm xuất khẩu và nghiệp vụ thanh toán quốc tế đồng bộ.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm đẩy mạnh hoạt động tín dụng xuất khẩu của Nhà nước tại VDB, hệ thống giải pháp đồng bộ cần được triển khai theo các nhóm chủ thể sau:

Nhóm giải pháp hoàn thiện cơ chế từ phía Chính phủ và các Bộ ngành

  • Rà soát và mở rộng danh mục mặt hàng được vay vốn định kỳ 6 tháng một lần theo hướng linh hoạt, tập trung ưu tiên các sản phẩm chế biến sâu có giá trị gia tăng nội địa trên 30% và các sản phẩm công nghệ thông tin, thay vì chỉ tập trung vào nông sản thô.
  • Xây dựng cơ chế điều hành lãi suất cho vay tín dụng xuất khẩu theo nguyên tắc bám sát lãi suất thương mại tham chiếu (TICR) của OECD, duy trì mức chênh lệch tối thiểu 1,5%/năm so với chi phí huy động bình quân nhằm đảm bảo cân bằng tài chính lâu dài.
  • Ban hành khuôn khổ pháp lý thí điểm thành lập Quỹ bảo hiểm tín dụng xuất khẩu quốc gia do VDB quản lý hoặc liên kết thực hiện trong giai đoạn 2010 - 2015.

Nhóm giải pháp nâng cao năng lực quản trị tại VDB

  • Đa dạng hóa danh mục sản phẩm tài trợ: Đưa vào vận hành thực tế nghiệp vụ tín dụng người mua và phát hành bảo lãnh tín dụng xuất khẩu, đặt mục tiêu các sản phẩm mới này chiếm tỷ trọng từ 15% đến 20% tổng doanh số tài trợ xuất khẩu trong 3 năm tới.
  • Thiết lập hệ thống quản trị rủi ro toàn diện theo chuẩn Basel II trước năm 2012, ứng dụng mô hình xếp hạng rủi ro quốc gia 8 cấp bậc của OECD để thẩm định các đối tác nước ngoài và kiểm soát tỷ lệ nợ quá hạn dưới mức 1,0%.
  • Triển khai cung ứng dịch vụ thanh toán quốc tế và hệ thống tài khoản ngoại tệ trực tiếp tại VDB, kết nối mạng lưới thông tin với ít nhất 5 tổ chức cung cấp thông tin tín dụng quốc tế lớn trên thế giới nhằm hỗ trợ thẩm định người mua nhập khẩu.
  • Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ thẩm định tín dụng thông qua các chương trình đào tạo nghiệp vụ tài trợ thương mại quốc tế chuẩn mực, thực hiện hoàn thành cho 100% cán bộ tín dụng tại 44 chi nhánh trước năm 2011.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là nguồn tư liệu khoa học và thực tiễn giá trị cao cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Ngân hàng Nhà nước): Sử dụng kết quả nghiên cứu và các kiến nghị để làm căn cứ sửa đổi các điều khoản bất cập trong Nghị định 151/2006/NĐ-CP, xây dựng chiến lược tín dụng xuất khẩu quốc gia phù hợp với lộ trình hội nhập WTO và quy định của OECD.
  2. Ban lãnh đạo và cán bộ nghiệp vụ hệ thống Ngân hàng Phát triển Việt Nam: Ứng dụng quy trình đánh giá rủi ro tín dụng xuất khẩu, giải pháp phân tán rủi ro danh mục ngành hàng và kế hoạch thiết kế sản phẩm cho vay người mua vào hoạt động tác nghiệp thực tế tại các chi nhánh.
  3. Doanh nghiệp xuất khẩu và các hiệp hội ngành hàng: Nắm rõ các quy định về điều kiện cấp tín dụng, tỷ lệ vốn vay tối đa 85% giá trị hợp đồng/LC và yêu cầu tài sản bảo đảm 15% để chủ động xây dựng phương án kinh doanh, tiếp cận dòng vốn chi phí thấp từ ngân sách nhà nước.
  4. Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuyên sâu về mô hình tổ chức ECA, chính sách tài chính công hỗ trợ thương mại và phương pháp phân tích thực chứng kết hợp ma trận SWOT.

Câu hỏi thường gặp

Tín dụng xuất khẩu của Nhà nước tại VDB có những hình thức nào theo quy định?

Theo quy định tại Nghị định 151/2006/NĐ-CP, tín dụng xuất khẩu của Nhà nước bao gồm: cho vay xuất khẩu (cho vay người xuất khẩu và cho vay người nhập khẩu), bảo lãnh tín dụng xuất khẩu, bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, giai đoạn 2001 - 2008 tại VDB mới triển khai nghiệp vụ cho vay ngắn hạn đối với nhà xuất khẩu.

Mức vốn cho vay và tỷ lệ tài sản bảo đảm tại VDB được quy định ra sao?

Nghị định 151/2006/NĐ-CP quy định mức vốn cho vay tối đa bằng 85% giá trị hợp đồng xuất khẩu/nhập khẩu hoặc giá trị L/C hợp lệ. Tỷ lệ tài sản bảo đảm tiền vay tối thiểu là 15% giá trị vốn vay, giảm một nửa so với mức 30% quy định trước đây tại Quyết định 133/2001/QĐ-TTg, giúp doanh nghiệp giảm bớt áp lực thế chấp tài sản.

Những loại hình doanh nghiệp nào được phép tiếp cận nguồn vốn tín dụng xuất khẩu?

Chính sách áp dụng bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam, bao gồm doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Năm 2008, khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã chiếm tỷ trọng chi phối với hơn 60% tổng doanh số vay vốn.

Vì sao hoạt động tín dụng xuất khẩu tại VDB phải tuân thủ Hiệp định SCM của WTO và quy định OECD?

Hiệp định SCM nghiêm cấm các hình thức trợ cấp xuất khẩu trực tiếp gây méo mó cạnh tranh thương mại. Việc tuân thủ Thỏa thuận OECD về lãi suất thương mại tham chiếu (TICR) và trần tài trợ 85% đảm bảo Việt Nam hỗ trợ xuất khẩu minh bạch, tránh nguy cơ bị các quốc gia nhập khẩu điều tra áp thuế chống trợ cấp hoặc trừng phạt thương mại.

Đâu là những rủi ro lớn nhất trong hoạt động tín dụng xuất khẩu tại VDB giai đoạn 2001 - 2008?

Rủi ro lớn nhất bao gồm việc tập trung danh mục cho vay quá mức vào nhóm nông lâm thủy sản (chiếm 69,2% doanh số năm 2008) vốn chịu biến động giá toàn cầu mạnh. Ngoài ra, các khoản cho vay theo chỉ định của Chính phủ chiếm 30% - 40% tổng dư nợ nhưng không có tài sản bảo đảm và thời gian hoàn vốn kéo dài tạo áp lực nợ xấu tiềm ẩn.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về vai trò kinh tế của tín dụng xuất khẩu nhà nước và mô hình tổ chức ECA, gắn với các chuẩn mực quốc tế của WTO, OECD và Berne Union.
  • Đánh giá chi tiết chặng đường 8 năm (2001 - 2008), ghi nhận sự tăng trưởng vượt bậc của quy mô doanh số cho vay đạt 27.275 tỷ đồng và dư nợ đạt 13.376 tỷ đồng vào năm 2008.
  • Nhận diện thẳng thắn các tồn tại cốt lõi: Sản phẩm tín dụng đơn điệu, cơ cấu danh mục tập trung rủi ro cao ở nhóm hàng nông sản và số lượng doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn còn rất khiêm tốn (360 đơn vị).
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ cho giai đoạn 2010 - 2020: Đa dạng hóa sang hình thức bảo lãnh và tín dụng người mua, hiện đại hóa hệ thống thanh toán quốc tế và thiết lập chuẩn quản trị rủi ro theo Basel II.
  • Khẳng định tín dụng xuất khẩu nhà nước là đòn bẩy chiến lược thúc đẩy ngoại thương bền vững; các bên liên quan cần khẩn trương phối hợp hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho hàng hóa xuất khẩu Việt Nam trên trường quốc tế.