CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ LOGISTICS ĐÔ THỊ 1. Khái niệm chung về logistics Cho đến nay vẫn chưa có một cách định nghĩa thống nhất về logistics. Tùy theo từng giai đoạn phát triển của nghiên cứu logistics và quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu mà những cách định nghĩa khác nhau về logistics được đưa ra. Theo Christopher (2012), “logistics là quá trình quản lý chiến lược các hoạt động thu mua, di chuyển và dự trữ nguyên vật liệu, thành phẩm hoặt bán thành phẩm (và các dòng thông tin có liên quan) thông qua các kênh tổ chức và marketing của nó theo cách nhằm mang lại lợi ích tối đa trong hiện tại và tương lai thông qua việc đáp ứng các đơn hàng theo một cách hiệu quả nhất về mặt chi phí.” Ghiani và cộng sự (2013) cho rằng “logistics là môn nghiên cứu các hoạt động chức năng xác định dòng chảy của nguyên vật liệu (và của các thông tin có liên quan) trong một công ty, từ nguồn đầu vào đầu tiên tại các nhà cung cấp cho đến khi giao các sản phẩm hoàn chỉnh cho khách hàng, cùng với dịch vụ sau bán hàng.” Theo quan điểm của Đoàn Thị Hồng Vân (2006), “logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí và thời điểm vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của dây chuyền cung ứng cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế.” Như vậy, một cách tổng quát, có thể rút ra nhận định rằng logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí, thời gian, lưu trữ và vận chuyển các tài nguyên từ điểm đầu của dây chuyền cung ứng đến tay người tiêu dùng nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng.
Các giai đoạn và hình thức phát triển của logistics Theo ESCAP (Economic and Social Commission for Asia and Pacific), logistics nhận được sự quan tâm vào những năm 1960 và phát triển đến nay trải qua ba giai đoạn: Giai đoạn 1: Phân phối vật chất Vào những năm 1960, việc mở rộng sản xuất ồ ạt dẫn đến cạnh tranh ngày càng gay gắt. Lượng hàng hóa làm ra ngày càng nhiều mà thị trường tiêu thụ bị giới hạn. Các doanh nghiệp bắt đầu quan tâm đến việc quản lý một cách hệ thống các hoạt động có liên quan nhằm đảm bảo phân phối sản phẩm cho khách hàng một cách có hiệu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các hoạt động này bao gồm: vận tải, phân phối, bảo quản hàng hóa, quản lý tồn kho, bao bì đóng gói, phân loại, dán nhãn,… và được gọi chung là phân phối sản phẩm vật chất, hay logistics đầu ra Giai đoạn 2: Hệ thống logistics Bắt đầu từ những năm 1980, các công ty tiến hành kết hợp quản lý cả hai mặt: đầu vào (cung ứng vật tư) với đầu ra (phân phối sản phẩm) nhằm tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh tế.
Sự kết hợp này được gọi là hệ thống logistics. Giai đoạn 3: Quản trị chuỗi cung ứng Ngày nay, các doanh nghiệp hướng tới việc quản lý, kiểm soát toàn bộ chuỗi các hoạt động từ người cung cấp - đến người sản xuất - khách hàng tiêu dùng sản phẩm và những thông tin (theo chiều ngược lại) với mục tiêu tối ưu hóa chuỗi các hoạt động này nhằm tiết kiệm chi phí, gia tăng hiệu quả kinh tế. Quản trị chuỗi cung ứng coi trọng việc phát triển các quan hệ với đối tác, kết hợp chặt chẽ giữa người sản xuất với người cung cấp, người tiêu dùng, và các bên có liên quan, như các công ty vận tải, kho bãi, giao nhận, và người cung cấp công nghệ thông tin. Tương ứng với ba giai đoạn nêu trên, cho đến nay logistics đã phát triển và hình thành năm hình thức hoạt động của các bên tham gia: Logistics bên thứ nhất (1PL): Chủ sở hữu hàng hóa, nguyên vật liệu tự mình tổ chức, thực hiện các hoạt động logistics nhằm đáp ứng nhu cầu của chính bản thân.
Hình thức này thường mang tính chuyên nghiệp thấp do không đủ các phương tiện và công nghệ hỗ trợ, đặc biệt là công nghệ thông tin. Logistics bên thứ hai (2PL): Là người cung cấp dịch vụ cho từng hoạt động đơn lẻ của chuỗi logistics nhằm đáp ứng nhu cầu của chủ hàng nhưng chưa tích hợp với hoạt động logistics (chỉ đảm nhận một khâu trong chuỗi logistics). Các hoạt động đơn lẻ này có thể bao gồm vận tải, kho vận, thủ tục hải quan, thanh toán… Logistics bên thứ ba (3PL): Là người cung cấp dịch vụ logistics tương đối hoàn chỉnh, thay mặt chủ chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ logistics cho từng bộ phận chức năng, có sự kết hợp thống nhất ở các khâu. Logistics bên thứ tư (4PL): Là người hợp nhất, gắn kết các nguồn lực, tiềm năng và cơ sở vật chất kỹ thuật của mình với các tổ chức khác để thiết kế, xây dựng và vận hành các giải pháp chuỗi logistics, nhằm đạt được một mục tiêu định trước của khách LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
4PL được phát triển trên nền tảng của 3PL, nhưng bao gồm lĩnh vực hoạt động rộng hơn, gồm các hoạt động của 3PL, đi kèm với các công nghệ thông tin và việc quản lý các tiến trình kinh doanh. 4PL được coi như một điểm liên lạc duy nhất, là nơi thực hiện việc quản lý, tổng hợp tất cả các nguồn lực và giám sát các chức năng 3PL trong suốt chuỗi phân phối nhằm vươn tới thị trường toàn cầu, lợi thế chiến lược và các mối quan hệ lâu bền. Logistics bên thứ năm (5PL): 5PL được phát triển nhằm phục vụ cho thương mại điện tử. Các nhà cung cấp dịch vụ 5PL là các 3PL và 4PL đứng ra quản lý toàn chuỗi phân phối trên nền tảng thương mại điện tử (Đỗ Thị Ngọc Diệp, 2011).
Hoạt động logistics tại các đô thị Sự bùng nổ về số lượng và quy mô của các đô thị với đặc điểm dân cư tập trung đông đúc trong các diện tích giới hạn đã dẫn tới nhu cầu ngày một tăng đối với các hoạt động logistics nhằm đáp ứng nhu cầu của dân cư đô thị về nguồn cung hàng hóa và các dịch vụ có liên quan. Tuy vậy, hoạt động logistics tại các đô thị cũng đã và đang gây ra những tác động tiêu cực như chiếm dụng diện tích đường phố, ùn tắc giao thông, ô nhiễm không khí và ô nhiễm tiếng ồn, giảm an toàn giao thông đường bộ, và hủy hoại hạ tầng cơ sở (Herzog, 2010). Các mối quan tâm và nghiên cứu về logistics tại các đô thị đã xuất hiện từ khoảng 25 năm trở lại đây. Có thể tìm thấy một loạt các thuật ngữ được sử dụng để miêu tả một phần hoặc toàn bộ các hoạt động logistics tại các đô thị và quy mô của chúng, trong số đó phổ biến nhất là các thuật ngữ như “di chuyển hàng hóa đô thị”, “vận tải hàng hóa đô thị”, “phân phối hàng hóa đô thị”, “giao thông hàng hóa đô thị”, “logistics trong thành phố”, và “logistics đô thị” (Ma, 2014).
Dù có thể có sự khác nhau trong cách diễn đạt cũng như phạm vi quan tâm về các đối tượng hàng hóa và hoạt động logistics có liên quan, tất cả đều chỉ ra tầm quan trọng và nhu cầu cao của việc nghiên cứu hoạt động logistics tại các đô thị. Để đảm bảo tính thống nhất và tránh các nhầm lẫn, thuật ngữ “logistics đô thị” sẽ được lựa chọn sử dụng trong nghiên cứu này. Chi tiết về logistics đô thị sẽ được đề cập trong phần 1.2 của nghiên cứu. Khái niệm chung về logistics đô thị 1.
Khái niệm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Dù xuất hiện chưa lâu, logistics đô thị đã thu hút được sự quan tâm lớn từ nhiều bên khác nhau. Có nhiều định nghĩa khác nhau về logistics đô thị được đưa ra, tùy thuộc vào quan điểm cũng như mục tiêu của các tác giả. Theo OECD (1996), logistics đô thị là “các biện pháp nhằm tối đa hóa khả năng vận tải của các phương tiện và tối thiểu hóa số phương tiện trên mỗi kilomet, hướng đến mục tiêu giúp cho quá trình phân phối hàng hóa tại các đô thị trở nên thân thiện và bền vững với môi trường.” Định nghĩa này tập trung vào các mục tiêu môi trường của logistics đô thị như cắt giảm lượng khí thải, tiếng ồn,… gây ra do quá trình phân phối hàng hóa trong đô thị. Taniguchi và cộng sự (2001) định nghĩa logistics đô thị là “quá trình tối ưu hóa toàn diện các hoạt động logistics và vận tải bởi các công ty tư nhân với sự hỗ trợ của các hệ thống thông tin tiên tiến tại các khu vực đô thị khi xét đến các yếu tố như môi trường giao thông, tắc nghẽn giao thông, an toàn giao thông, và tiết kiệm năng lượng, trong khuôn khổ một nền kinh tế thị trường.” Định nghĩa của Taniguchi nhấn mạnh vai trò của khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời đề cao khả năng tự điều chỉnh của nền kinh tế thị trường, cũng như quan tâm đến vai trò của công nghệ và hệ thống thông tin trong quá trình tối ưu hóa hoạt động logistics tại đô thị.
Benjelloun (2008) cho rằng “logistics đô thị hướng đến mục tiêu giảm thiểu các phiền hà liên quan đến vận chuyển hàng hóa trong khi vẫn hỗ trợ cho sự phát triển bền vững của khu vực đô thị. Hoạt động logistics đô thị được thực hiện dựa trên sự phối hợp giữa người gửi hàng, người vận chuyển trong quá trình vận chuyển hàng hóa, và hướng đến mục tiêu có thể vận chuyển hàng hóa của những khách hàng và người vận chuyển khác nhau trên cùng một phương tiện vận tải thân thiện với môi trường.” Cách định nghĩa này đề cao sự hợp tác giữa các bên liên quan trong logistics đô thị nhằm đạt được một mục tiêu chung là phát triển đô thị một cách bền vững. Ma (2014) định nghĩa “logistics đô thị là tất cả các hoạt động logistics diễn ra trong đô thị, bao gồm việc di chuyển hàng hóa tới, từ, trong, và qua các khu vực đô thị.” Định nghĩa này dựa trên cái nhìn tổng quan về luồng di chuyển hàng hóa trong đô thị. Nó đề cập đến việc di chuyển và phân phối hàng hóa, cũng như cân nhắc đến các ảnh hưởng tiêu cực như ô nhiễm không khí, ô nhiễm tiếng ồn, hay tai nạn giao thông.
Theo định nghĩa ngày, logistics đô thị cần có sự kết hợp chặt chẽ về hành động và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 mục tiêu của các bên có liên quan. Thay vì tính toán hay vận hành một cách đơn lẻ, các bên, bao gồm cả khu vực công và khu vực tư, cần kết hợp xây dựng một hệ thống logistics thống nhất trong đô thị.