CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NHTM 1. Cơ sở lý luận về Ngân hàng thương mại. Khái niệm Ngân hàng thương mại Theo quy định tại điều 20 khoản 2 và 7 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được Quốc hội nước cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam ban hành thì: “NHTM là một tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh có liên quan”. Ngân hàng thương mại là một tổ chức tín dụng thực hiện những nhiệm vụ cơ bản nhất của ngân hàng đó là huy động vốn nhàn dỗi từ các chủ thể trong nền kinh tế để tạo nên nguồn vốn tín dụng và cho vay vốn.
Hoạt động của NHTM nhằm mục đích kinh doanh hàng hóa, đặc biệt là tiền, trả lãi suất huy động vốn thấp hơn lãi suất cho vay vốn và phần chênh lệch đó chính là lợi nhuận của NHTM. Hoạt động này của ngân hàng đáp ứng cho mọi nhu cầu mong muốn về vốn của mọi tầng lớp dân chúng, các cá nhân, doanh nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội. Đặc điểm của ngân hàng thương mại NHTM được nhìn nhận khác nhau ở mỗi quốc gia khác nhau nhưng khi tựu chung lại, NHTM có những được điểm sau: NHTM là DN hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và mục tiêu của NH đó là lợi nhuận. Hoạt động chủ yếu và lâu đời nhất của NHTM là cho vay và huy động vốn.
Từ đó, NHTM thực hiện hoạt động nhằm huy động tiền gửi từ cá chủ thể khách nhau trong nền kinh tế, dịch chuyển nguồn vốn nhàn dỗi đó đến với những đối tượng đang thiếu hụt về vốn và có nhu cầu được vay vốn và ngân hàng sẽ hưởng phần chênh lệch lãi suất của hoạt động trên. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại được xếp vào nhóm hoạt động kinh doanh có mức độ rủi ro cao. Rủi ro thị trường trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng là rủi ro tiềm ẩn gây tác động tiêu cực đối với lợi nhuận hoặc vốn của NHTM, bởi vì do những biến động bất lợi từ các yếu tố trên thị trường như: 5 lãi suất, tỷ giá, giá chứng khoán, giá hàng bán… NHTM không thể tác động làm thay đổi những yếu tố này, mà chỉ có thể dự báo xu hướng, tính toán mức độ ảnh hưởng để từ đó đưa ra các biện pháp điều chỉnh quy mô, cơ cấu tài sản có, sao cho hạn chế thấp nhất rủi ro có thể xảy ra thông qua việc kết hợp mô hình hiện đại trong việc ước lượng rủi ro lãi suất và sử dụng linh hoạt các công cụ tài chính phái sinh. Sự tồn tại của NHTM phụ thuộc rất nhiều vào sự tin tưởng của khách hàng.
Khách hàng là điều kiên tiên quyết để Ngân hàng có thể duy trì tồn tại và phát triển. NHTM phải không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ sản để đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất. Vì sự tồn tại của Ngân hàng phụ thuộc rất nhiều vào lòng in của khách hàng và uy tín của Ngân hàng trên thị trường. Phân loại ngân hàng thương mại * Ngân hàng thương mại Quốc doanh: Là ngân hàng thương mại được mở bằng 100% từ nguồn vốn ngân sách nhà nước.
Trong xu thế kinh tế hội nhập, để thu hút được nhiều nguồn vốn thì ngân hàng thương mại Quôc doanh ban hành nhiều hình thức tăng vốn như phát hành trái phiếu, cổ phần hóa ngân hàng. - Một số ngân hàng Quốc doanh ở Việt Nam: + Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (Bank for Agriculture and Rural Development) + Ngân hàng công thương Việt nam (Industrial and commercial Bank of viet man – ICBV-Vietinbank) + Ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam (Bank for Investement and Development of Viet nam – BIDV) + Ngân hàng ngoại thương Việt nam (Bank for Foreign Trade of Viet nam – Vietcombank) * Ngân hàng thương mại cổ phần: Là ngân hàng thương mại được thành lập dưới sự góp vốn của hai hay nhiều cá nhân hoặc công ty theo cổ phần. Trong đó mỗi cá nhân hay công ty chỉ được sở hữu một số cổ phần hạn định theo qui định của ngân hàng nhà nước Việt nam. - Một số ngân hàng thương mại cổ phần là: 6 + Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu + Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Đông + Ngân hàng thương mại cổ Đông Á + Ngân hàng thương mại cổ Quân đội * Ngân hàng liên doanh: Là ngân hàng thương mại được thành lập bằng vốn giữa các ngân hàng với nhau, một bên là ngân hàng thương mại Việt nam và một bên khác là ngân hàng thương mại nước ngoài có trụ sở đặt tại Việt nam, hoạt động như những ngân hàng ở Việt Nam.
- Một số ngân hàng thương mại liên doanh như: + Indovina Bank Limitted + Ngân hàng Việt Nga + Shinhanvina Bank + Vid Public Bank 1. Chức năng của ngân hàng thương mại Chức năng trung gian tín dụng: đây là chức năng đặc trưng và cơ bản nhất của NHTM và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy và phát triển nền kinh tế: NHTM đóng vai trò là “cầu nối” giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn trong xã hội, NHTM đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay. Đồng thời, NH được hưởng lợi nhuận chênh lệch từ lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay, góp phần tại nên lợi ích cho chính NH và các bên cho tham gia. NHTM đảm bảo sự vận động liên tục của luồng máy kinh tế xã hội, thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế vì đáp ứng được nhu cầu về vốn để duy trì quá trình tái sản xuất xã hội.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhờ tận dụng được nguồn vốn nhàn rỗi tạm thời vào quá trình cho vay sinh lời. 7 Chức năng trung gian thanh toán: NHTM đóng vai trò làm thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện chuyển tiền từ tài khoản của KH trả vào tài khoản cho người thụ hưởng để thanh toán hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của KH để thu tiền bán hàng và các khoản thu nhập khác theo lệnh của họ. Chức năng này giúp KH không cần phải thanh toán trực tiếp, quá trình chuyển tiền nhanh chóng, tiết kiệm, đồng thời giúp luân chuyển vốn nhanh chóng đối với nền kinh tế. Chức năng thủ quỹ cho xã hội: NHTM nhận tiền gửi của cá nhân, DN và các tổ chức khác, vừa đảm bảo an toàn tài sản, vừa đáp ứng nhu cầu cần rút tiền và chi trả theo yêu cầu của KH.
Qua đó, NH tạo được nguồn vốn để thực hiện chức năng tín dung, và còn là cơ sở để NH thực hiện chức năng thanh toán. Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại. Khái niệm, đặc điểm, phân loại, vai trò các sản phẩm cho vay cá nhân chủ yếu. Khái niệm về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại.
Cho vay là hoạt động truyền thống và quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản, tạo ra lợi nhuận lớn nhất và cũng là hoạt động mang laị rủi ro nhất. Đó là hình thức cấp tín dụng, theo đó NHTM giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận và nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Khách hàng vay vốn của NHTM có thể là các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, cá nhân và hộ gia đình, trong đó cá nhân và hộ gia đình là bộ phận ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Như vậy, cho vay khách hàng cá nhân là hình thức cho vay mà ngân hàng chuyển quyền sử dụng vốn của mình cho khách hàng là các cá nhân hoặc hộ gia đình, với mục đích tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ của cá nhân và hộ gia đình đó với những điều kiện nhất định được thỏa thuận trong hợp đồng.
Đặc điểm về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại. a) Đối tượng cho vay: cá nhân, và các hộ gia đình. Nhắc đến cho vay KHCN thì đối tượng cho vay được quan tâm đó là KHCN, tuy nhiên bên cạnh đó còn có đối tượng là hộ kinh doanh vơi mục đích vay để sản xuất kinh doanh b) Mục đích vay: Nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh của cá nhân, hộ gia đình. Do đó, nhu cầu vay vốn phụ thuộc vào tâm lý của khách hàng và chu kì kinh tế của họ.
Khi nền kinh tế tăng trưởng, KHCN sẽ có tư tưởng lạc quan hơn về tương lai, họ sẽ kì vọng có khoản thu nhập nhiều hơn trong tương lai, do đó sẽ kích thích sự chi tiêu cũng như sản xuất kinh doanh ở hiện tại. Ngược lại nếu nền kinh tế suy thoái, KHCN sẽ có xu hướng giảm tiêu dùng, giảm đàu tư, bắt đầu tiết kiệm và hạn chế vay. c) Quy mô khoản vay nhỏ, số lượng các khoản vay lớn: Hầu hết các khoản vay KHCN có quy mô khá nhỏ nhưng số lượng khản vay cực kỳ lớn do NH đưa ra chính sách cho vay KHCN đáp ứng những nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình nhằm mục đích phục vụ đời sống và bổ sung vốn lưu động cho các hoạt động buôn bán, kinh doanh hộ cá thể. Số tiền vay thường bị giới hạn bởi các điều kiện tín dụng của ngân hàng đó là tính hợp lý của nhu cầu vốn và khả năng trả nợ và tài sản đảm bảo của khách hàng.
Tuy nhiên số lượng khách hàng vay rất lớn do KH thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, có mức thu nhập khác nhau và có nhu cầu về vốn rất đa dạng. d) Cho vay KHCN thường có rủi ro cao: Khi thẩm định cho vay thì thông tin về KH là một trong những yếu tố quan trọng để ngân hàng đưa ra quyết định cho vay. Nhưng trong cho vay KHCN chất lượng thông tin tài chính của khách hàng thường không cao và không đầy đủ, điều này sẽ rất khó khăn trong việc đánh giá năng lực trả nợ của khách hàng.