chương 1, Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 [10], Kinh doanh dịch vụ lữ hành là việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện một phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch cho khách du lịch. Kinh doanh lữ hành là sự tổng hợp của nhiều công đoạn từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc tour. Khi nói đến hoạt động kinh doanh lữ hành, nói chung các chuyên gia về du lịch muốn đề cập đến các hoạt động chính như “làm nhiệm vụ giao dịch, ký kết với các tổ chức kinh doanh du lịch trong nước, nước ngoài để xây dựng và thực hiện các Chương trình du lịch đã bán cho khách du lịch”. Tuy nhiên, trên thực tế, khi nói đến hoạt động kinh doanh lữ 10 hành chúng ta thưởng thấy tồn tại song song hai hoạt động phổ biến sau: Kinh doanh lữ hành (Tour Operators Business): là việc thực hiện các hoạt động nghiên cứu thị trường, thiết lập các Chương trình du lịch trọn gói hay từng phần; quảng cáo và bán các Chương trình này trực tiếp hay gián tiếp qua các trung gian hoặc văn phòng đại diện, tổ chức thực hiện Chương trình và hướng dẫn du lịch.
Kinh doanh đại lý lữ hành (Travel Sub-Agency Business): là việc thực hiện các dịch vụ đưa đón, đăng ký nơi lưu trú, vận chuyển, hướng dẫn tham quan, bán các Chương trình du lịch của các doanh nghiệp lữ hành, cung cấp thông tin du lịch và tư vấn du lịch nhằm hưởng hoa hồng. Đối với khách du lịch, đại lý lữ hành như một Người trung gian, thay mặt khách hàng sắp xếp mọi thứ từ vé tàu xe, khách sạn, đồ ăn, các dịch vụ khác. Có thể coi đại lý lữ hành là một chuyên gia tư vấn về du lịch vì họ hiểu tưởng tận các chi tiết vốn có trong du lịch mà khách không thể biết hết được. Cách phân định như trên chỉ mang tính chất tương đối.
Trên thực tế, các công ty lữ hành du lịch có rất nhiều loại khác nhau, với những hoạt động phong phú, đa dạng, phức tạp và biến đổi không ngừng theo sự phát triển của hoạt động du lịch. Cơ sở lưu trú Theo khoản 12, điều 3, Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 [10], cơ sở lưu trú du lịch là là nơi cung cấp dịch vụ phục vụ nhu cầu lưu trú của khách du lịch. Để đáp ứng nhu cầu về lưu trú của khách du lịch, các doanh nghiệp tồn tại dưới nhiều hình thức, tên gọi khác nhau: Khách sạn; Làng du lịch; Biệt thự du lịch; Căn hộ du lịch; Bãi cắm trại du lịch; Nhà nghỉ du lịch; Nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê; Các cơ sở lưu trú du lịch khác. Kinh doanh vận chuyển khách du lịch Đặc trưng nổi bật của hoạt động du lịch là sự di chuyển của con Người từ nơi này đến nơi khác ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ, thưởng với 11 một khoảng cách xa.
Do vậy, khi nhắc đến hoạt động kinh doanh du lịch, không thể không đề cập đến hoạt động kinh doanh vận chuyển khách du lịch. Điều 45 Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 quy định Kinh doanh vận tải khách du lịch là việc cung cấp dịch vụ vận tải đường hàng không, đường biển, đường thủy nội địa, đường sắt, đường bộ chuyên phục vụ khách du lịch theo chương trình du lịch, tại khu du lịch, điểm du lịch. Để phục vụ cho hoạt động kinh doanh này có nhiều phương tiện vận chuyển khác nhau như ô tô, tàu hỏa, tàu thủy, máy bay… 1. Kinh doanh các dịch vụ du lịch khác Ngoài các hoạt động kinh doanh như đã nêu trên, trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh du lịch còn có một số hoạt động kinh doanh bổ trợ như kinh doanh các loại hình dịch vụ vui chơi, giải trí; tuyên truyền, quảng cáo du lịch; tư vấn đầu tư du lịch… Cùng với xu hướng phát triển ngày càng đa dạng về nhu cầu của khách du lịch, sự tiến bộ của khoa học - kỹ thuật và sự gia tăng mạnh của các doanh nghiệp du lịch dẫn đến sự cạnh tranh ngày càng tăng trên thị trường du lịch thì các hoạt động kinh doanh bổ trợ này ngày càng có xu hướng phát triển mạnh.
Nguồn nhân lực du lịch Để phát triển ngành du lịch cần có nhiều nguồn lực, trong đó nguồn nhân lực được đánh giá là một trong những yếu tố quan trọng góp phần cho sự phát triển của ngành. Xét một cách tổng quát, nguồn nhân lực ngành du lịch bao gồm toàn bộ lực lượng lao động trực tiếp và gián tiếp liên quan đến quá trình phục vụ khách du lịch. Do đó, khi đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực ngành du lịch thì không chỉ đề cập đến các lao động nghiệp vụ phục vụ khách một cách trực tiếp mà còn cả các lao động ở cấp độ quản lý, lao động làm công tác đào tạo và các lao động gián tiếp khác phục vụ khách du lịch. Căn cứ vào mối liên hệ với đối tượng lao động (khách du lịch), lao động du lịch được chia thành hai nhóm: lao động trực tiếp và lao động gián tiếp.
12 Lao động trực tiếp bao gồm những công việc trực tiếp phục vụ khách du lịch như trong khách sạn, nhà hàng, lữ hành, các cửa hàng bán lẻ phục vụ khách du lịch, cơ quan quản lý du lịch… Lao động gián tiếp bao gồm những công việc cung ứng, hỗ trợ cho các hoạt động trực tiếp phục vụ khách du lịch như: cung ứng thực phẩm cho khách sạn nhà hàng, cung ứng hàng hoá cho các cửa hàng bán lẻ phục vụ khách du lịch, các dịch vụ của Chính phủ hỗ trợ phát triển du lịch, đào tạo nhân lực du lịch, xây dựng khách sạn, sản xuất máy bay, các trang thiết bị phục vụ khách du lịch… Thông thưởng, các lao động trực tiếp phục vụ khách du lịch bao giờ cũng có ảnh hưởng trực tiếp và lớn nhất đến chất lượng dịch vụ, từ đó đến chất lượng sản phẩm du lịch. Từ những phân tích trên, nguồn nhân lực ngành du lịch được hiểu là lực lượng lao động tham gia vào quá trình phát triển du lịch, bao gồm lao động trực tiếp và lao động gián tiếp 1. Xúc tiến du lịch Trong hoạt động du lịch, xúc tiến du lịch đóng vai trò quan trọng như là chất xúc tác, đòn bẩy để phát triển du lịch, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của từng địa phương, từng quốc gia. Theo Khoản 13, Điều 3, Luật du lịch Việt Nam năm 2017, Xúc tiến du lịch là hoạt động nghiên cứu thị trường, tổ chức tuyên truyền, quảng bá, vận động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội phát triển và thu hút khách du lịch.
Nhà nước tổ chức, hướng dẫn hoạt động xúc tiến du lịch với các nội dung chủ yếu sau đây: - Tuyên truyền, giới thiệu rộng rãi về đất nước, con Người Việt Nam, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, di tích cách mạng, di sản văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con Người, bản sắc văn hoá dân tộc cho nhân dân trong nước và cộng đồng quốc tế; - Nâng cao nhận thức xã hội về du lịch, tạo môi trường du lịch văn 13 minh, lành mạnh, an toàn, phát huy truyền thống mến khách của dân tộc; - Huy động các nguồn lực để đầu tư phát triển các đô thị du lịch, khu du lịch, điểm du lịch đa dạng, độc đáo, có chất lượng cao, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc trong cả nước, từng vùng và từng địa phương; phát triển kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch, đa dạng hoá và nâng cao chất lượng các dịch vụ du lịch; - Nghiên cứu thị trường du lịch, xây dựng sản phẩm du lịch phù hợp với thị hiếu khách du lịch; tuyên truyền, giới thiệu sản phẩm du lịch. Tác động của du lịch đến kinh tế - xã hội Du lịch là nguồn thu lớn nhất trong khối dịch vụ đóng góp vào GDP và tạo ra nhiều việc làm cho xã hội. Nhu cầu trong tiêu dùng là những nhu cầu đặc biệt: nhu cầu hiểu biết về lịch sử, văn hóa; nhu cầu về hàng hóa (thức ăn, mua sắm.); nhu cầu về dịch vụ (lưu trú, vận chuyển hành khách, dịch vụ y tế, giải trí…) Việc tiêu dùng các dịch vụ du lịch và hàng hóa (chủ yếu là thức ăn) xảy ra trong cùng một thời gian và tại cùng một địa điểm xảy ra chúng, thông thường theo thời vụ. Những đặc điểm trên hình thành mối quan hệ trong tiêu dùng du lịch: các mối quan hệ vật chất nảy sinh khi khách đến nơi du lịch và mua dịch vụ, hàng hóa ở đó bằng tiền tệ; các mối quan hệ phi vật chất nảy sinh khi khách tiếp xúc với con Người, với văn hóa, phong tục và tập quán của Người địa phương.
Ý nghĩa kinh tế, nhân văn của việc phát triển du lịch - Ý nghĩa về mặt xã hội của việc phát triển du lịch đối với đất nước Du lịch góp phần giải quyết công ăn việc làm cho Người dân. Du lịch làm giảm quá trình đô thị hóa ở các nước kinh tế phát triển chậm. Du lịch là phương tiện tuyên truyền hiệu quả cho các nước chủ nhà. Du lịch đánh thức các nghề thủ công cổ truyền của các dân tộc.
14 Du lịch làm tăng thêm tầng hiểu biết về xã hội của du khách thông qua Người ở địa phương. Du lịch làm tăng thêm tình đoàn kết hữu nghị, mối quan hệ, hiểu biết của nhân dân giữa. Các vùng với nhau và giữa nhân dân của các quốc gia với nhau. - Các tác hại về kinh tế - xã hội do việc khai thác du lịch quá mức gây ra Phát triển du lịch quốc tế thụ động quá tải dẫn đến việc mất cân bằng cho cán cân thanh toán quốc tế, gây áp lực gia tăng lạm phát.
Vì lý do đó, một số nước trên thế giới đã phải dùng các biện pháp ngăn chặn như hạn chế các chuyến du lịch, ví dụ như quy định cho mỗi công dân một năm chỉ được đi du lịch ra nước ngoài một lần, trong mỗi chuyến đi chỉ được phép mang ra khỏi biên giới một số lượng tiền và ngoại tệ mạnh nhất định. Tạo ra sự phụ thuộc của nền kinh tế vào ngành dịch vụ du lịch. Ngành du lịch là ngành tạo ra dịch vụ là chủ yếu. Việc tiêu thụ dịch vụ phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan và khách quan (khách du lịch tiềm năng rất dễ từ chối một chuyến đi du lịch đã định).
Do vậy, việc đảm bảo doanh thu và phát triển của ngành du lịch là khó khăn hơn so với các ngành khác.