Chương I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Sự phát triển của du lịch và du lịch sinh thái, các khái niệm về DLST 1. Sự phát triển của du lịch và du lịch sinh thái Thuật ngữ “du lịch” được mô tả là hoạt động giải trí, lần đầu tiên được xuất bản trong từ điển tiếng Anh “Oxford English Dictionary” vào năm 1811, nhưng khái niệm du lịch đã xuất hiện từ trước đó rất lâu vào thời Hy Lạp và La Mã cổ đại. Một tu sĩ người Pháp tên là Aimeri De Picaud, người được cho là viết cuốn sách hướng dẫn du lịch đầu tiên trên thế giới.
Cuốn sách của ông, xuất bản vào năm 1130, với ý định giúp những người hành hương thực hiện các chuyến đi tới Tây Ban Nha (Honey, 1999). Vào thế kỷ 18 và 19, các quý tộc ở các nước Châu Âu rồi tiếp đến là tầng lớp thượng lưu Mỹ thường thực hiện các chuyến lữ hành “grand tours” để thưởng ngoạn những giá trị văn hóa và thiên nhiên lục địa, bao gồm những chuyến lữ hành tới vùng núi ở Thuỵ Sỹ. Du lịch chỉ thực sự bùng nổ với sự ra đời của hàng không vào năm 1948. Du lịch đại chúng đặc biệt phát triển trong suốt những năm 1950 đến 1980 của thế kỷ 20.
Mặc dù sơ khởi, du lịch đại chúng được quảng bá là ngành “công nghiệp không khói” nhưng cùng với thời gian và sự phát triển của nó, người ta sớm nhận ra rằng, lợi nhuận kinh tế của du lịch đại chúng là không đáng kể và du lịch đại chúng có ảnh hưởng to lớn đến môi trường xã hội. Du lịch đại chúng thường mang đến sự phát triển quá mức hoặc phát triển không cân bằng, ô nhiễm môi trường và sự xâm nhập của văn hóa ngoại lai cũng như phá vỡ nền kinh tế. Những chỉ trích về du lịch đại chúng (massive tourism) ngày càng tăng cao vào nửa cuối những năm 70 cho đến giữa những năm 80 của thế kỷ 20. Bị thúc đẩy bởi việc tìm kiếm loại hình du lịch xa lánh những đám đông và thử thách cũng như trải nghiệm bản thân, rất nhiều người yêu thiên nhiên đã tìm đến với những điểm du lịch hẻo lánh và biệt lập, nơi có quang cảnh yên bình và nguyên sơ.
Không ít người trong số họ đã trở thành những người tiên phong trong DLST. Khi họ trải nghiệm các khu vực thiên nhiên hoang dã bị đe dọa và biết về hoàn cảnh khó khăn của chúng, họ rất muốn làm việc gì đó để giúp đỡ. Họ tìm kiếm các chương trình giáo dục môi trường và sẵn sàng trả phí vào cửa cũng như sẵn sàng mua các sản phẩm, dịch vụ của địa phương nhằm giúp hỗ trợ kinh tế địa phương. Nhưng DLST không chỉ là một khuynh hướng bao gồm những người yêu và gắn bó với thiên nhiên.
DLST thực sự là một hỗn hợp các mối quan tâm xuất phát và nảy sinh từ các trăn trở về môi trường, kinh tế, xã hội. Các nhà bảo tồn đã bỏ công sức đáng kể để biến du lịch thành một tác nhân đắc lực cho bảo tồn thiên nhiên. DLST c 4 là một cách để trả nợ cho bảo tồn thiên nhiên và làm tăng giá trị của những khu thiên nhiên. Trong khoảng thời gian từ nửa cuối những năm 70 và giữa những năm 80 của thế kỷ 20, DLST dần được định hình.
Buổi ban đầu, DLST thường được đề cập đến như là du lịch “trách nhiệm”, “bền vững”, “bảo tồn” hoặc “ít tác động” và thường được ngành du lịch xếp loại ở du lịch mạo hiểm hay du lịch thiên nhiên [11]. Các khái niệm về du lịch sinh thái Người được coi là cha đẻ của thuật ngữ du lịch sinh thái là Hector Ceballos- Lascurain - một nhà môi trường học và kiến trúc sư người Mexico, người được cho là tiên phong nghiên cứu về du lịch sinh thái, đưa ra định nghĩa DLST lần đầu tiên vào năm 1983 như sau: "Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên ít bị ô nhiễm hoặc ít bị xáo trộn với những mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, trân trọng và thưởng ngoạn phong cảnh và giới động - thực vật hoang dã, cũng như những biểu thị văn hoá (cả quá khứ và hiện tại) được khám phá trong những khu vực này". Theo IUCN, “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch và tham quan có trách nhiệm với môi trường tại những vùng còn tương đối nguyên sơ, để thưởng thức và hiểu biết thiên nhiên (có kèm theo các đặc trưng văn hóa - quá khứ cũng như hiện tại) có hỗ trợ đối với bảo tồn, giảm thiểu tác động từ du khách, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của nhân dân địa phương” Trong Luật du lịch năm 2005, có một định nghĩa khá ngắn gọn “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững”[5]. Theo quy chế quản lý các hoạt động du lịch sinh thái tại các Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, do bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành năm 2007, thì “Du lịch sinh thái: Là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng dân cư ở địa phương nhằm phát triển bền vững, đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu du lịch trong tương lai.
”[2] Theo Hiệp hội Du lịch Sinh Thái (The Internatonal Ecotourism society) thì “DLST là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên là nơi bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương” (Lê Huy Bá, 2005)[1] Mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau, song khái quát lại, DLST được nhìn nhận bao gồm những thành phần chủ yếu sau: - Phát triển dựa vào những giá trị (hấp dẫn) của thiên nhiên và văn hóa bản địa. - Được quản lý bền vững về môi trường, sinh thái. - Có giáo dục và diễn giải về môi trường. - Có đóng góp cho những nỗ lực bảo tồn và phát triển cộng đồng.
c 5 Như vậy, DLST là loại hình du lịch dựa vào tài nguyên thiên nhiên và văn hóa của cộng đồng địa phương, được thiết kế mang tính giáo dục môi trường cao nhằm mang lại nguồn lợi kinh tế cho cộng đồng địa phương và công tác bảo tồn, trong đó phát huy sự tham gia của cộng đồng địa phương [13]. DU LỊCH THIÊN DU LỊCH HỖ TRỢ BẢO NHIÊN TỒN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VĂN HÓA BẢN ĐỊA DU LỊCH DLST DU LỊCH CÓ DU LỊCH ĐƯỢC GIÁO DỤC MÔI QUẢN LÝ BỀN VỮNG TRƯỜNG Hình 1. Cấu trúc Du lịch Sinh thái của Buckley (1994) [13] 1. Các nguyên tắc, đặc trưng của du lịch sinh thái 1.
Nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái Du lịch sinh thái phát triển dựa trên những nguyên tắc hướng tới sự phát triển bền vững. Những nguyên tắc được đảm bảo trong DLST không chỉ cho các nhà quy hoạch, quản lý, tổ chức, điều hành du lịch mà còn cho cả hướng dẫn viên du lịch sinh thái, cho cả cộng đồng địa phương. - Phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi, tham quan giải trí, khám phá tìm hiểu tự nhiên và con người. - Hỗ trợ công tác bảo tồn tài nguyên du lịch sinh thái nói riêng và tài nguyên ở các Vườn quốc gia, khu bảo tồn nói chung.
Cụ thể là DLST phải được tổ chức có tính khoa học, có tính giáo dục môi trường cao, đồng thời đem lại lợi nhuận tái phục vụ cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học. c 6 - Hỗ trợ kinh tế địa phương, tạo thêm những lợi ích kinh tế lâu dài cho cộng đồng dân địa phương, những người có quyền làm chủ cho sự phát triển và trong công tác hoạch định du lịch [16]. Theo quy chế quản lý các hoạt động du lịch sinh thái tại các VQG và KBTTN, khi tổ chức hoạt động du lịch sinh thái phải đảm bảo các nguyên tắc sau: (1) Các hoạt động du lịch sinh thái không được làm ảnh hưởng đến diễn thế tự nhiên của các hệ sinh thái, đời sống tự nhiên của các loài động, thực vật hoang dã, cảnh quan thiên nhiên cũng như bản sắc văn hoá của cộng đồng dân cư ở địa phương tại các Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên. (2) Lợi nhuận từ các dịch vụ du lịch sinh thái được tái đầu tư cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học trong các Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên.
Tỷ lệ tái đầu tư cho bảo tồn thực hiện theo quy định của nhà nước. Các đặc trưng cơ bản của du lịch sinh thái Du lịch sinh thái, nếu được biểu thị với ý nghĩa thực của nó, bao gồm 5 đặc trưng cơ bản có quan hệ hỗ trợ nhau. - Dựa trên địa bàn hấp dẫn về tự nhiên: Đối tượng của DLST là những khu vực hấp dẫn với các đặc điểm phong phú về tự nhiên, đa dạng về sinh học và kể cả những nét văn hoá bản địa đặc sắc. Đặc biệt, những khu tự nhiên còn tương đối nguyên sơ, ít bị tác động lớn bởi các hoạt động của con người.
Chính vì vậy, hoạt động DLST thường diễn ra và thích hợp tại lãnh thổ các Vườn quốc gia và các Khu bảo tồn tự nhiên. - Hỗ trợ bảo tồn, đảm bảo bền vững về sinh thái: Thách thức đối với DLST trong bất kỳ một quốc gia hay một khu vực nào là khai thác hợp lý tiềm năng cho du lịch, đảm bảo chất lượng sản phẩm mà lại không gây tác động có hại ngược trở lại môi trường. DLST có thể tạo ra nguồn thu cho việc quản lý bảo tồn nguồn tài nguyên ngoài những lợi ích về văn hoá - xã hội. Sự đóng góp về tài chính với một phần chi phí trong chuyến đi của du khách có thể giúp chi trả cho các dự án bảo tồn đa dạng sinh học.
- DLST gắn liền với giáo dục môi trường (GDMT): Đặc điểm GDMT trong DLST là một yếu tố cơ bản thứ hai phân biệt nó với loại du lịch tự nhiên khác. Giải thích và GDMT là những công cụ quan trọng trong việc tăng thêm những kinh nghiệm du lịch thú vị và nâng cao kiến thức và sự trân trọng môi trường cho du khách, dẫn đến hành động tích cực đối với bảo tồn, góp phần tạo nên sự bền vững lâu dài của hoạt động DLST trong những khu tự nhiên. c 7 - Mang lại lợi ích cho địa phương: DLST cải thiện đời sống, tăng thêm lợi ích cho cộng đồng địa phương và môi trường của khu vực.