Tổng quan nghiên cứu

Năm 2019, ngành du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ghi nhận bước tăng trưởng ấn tượng khi đón 15,55 triệu lượt khách du lịch, mang lại tổng doanh thu 16.558 tỷ đồng, tăng trưởng 16,16% so với năm 2018. Mặc dù sở hữu đường bờ biển dài, tài nguyên sinh thái phong phú và vị trí liền kề trung tâm kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, ngành du lịch địa phương vẫn đối mặt với nhiều rào cản mang tính cơ cấu. Thực tế ghi nhận lượng khách lưu trú năm 2019 chỉ đạt 3,71 triệu lượt, chiếm khoảng 23,8% tổng lượng khách, cho thấy phần lớn du khách chỉ tham quan trong ngày, mức chi tiêu bình quân còn thấp và các sản phẩm dịch vụ cao cấp chưa đủ sức níu chân du khách dài ngày.

Trước bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các trung tâm du lịch biển phía Nam, việc xây dựng một chiến lược phát triển đồng bộ và bền vững là nhiệm vụ cấp thiết. Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trong giai đoạn 2017 – 2019, từ đó xác định rõ các cơ hội, thách thức, điểm mạnh và điểm yếu cốt lõi. Mục tiêu trọng tâm là đề xuất hệ thống giải pháp mang tính chiến lược đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng gia tăng tỷ trọng dịch vụ chất lượng cao. Nghiên cứu hướng tới mục tiêu tối ưu hóa đóng góp của du lịch vào tổng sản phẩm nội địa, hỗ trợ nâng cao hiệu quả khai thác của hơn 35,4 ngàn tỷ đồng vốn đầu tư đăng ký và tạo việc làm bền vững cho hơn 10.000 lao động địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng quy trình quản trị chiến lược toàn diện của Fred R. David kết hợp với mô hình lợi thế cạnh tranh của Michael Porter nhằm phân tích môi trường kinh doanh du lịch cấp địa phương. Khung lý thuyết phân loại chiến lược theo ba cấp độ quản lý gồm chiến lược cấp công ty, chiến lược cấp kinh doanh và chiến lược cấp chức năng; đồng thời xem xét ba nhóm chiến lược cạnh tranh chung là chi phí thấp, khác biệt hóa và tập trung hóa.

Trong lĩnh vực du lịch, đề tài tiếp cận định nghĩa chuẩn hóa của Tổ chức Du lịch Thế giới và Pháp lệnh Du lịch Việt Nam, làm rõ bản chất của sản phẩm du lịch với các đặc tính cốt lõi như tính vô hình, tính không thể lưu kho, tính thời vụ và độ nhạy cảm cao trước các biến động môi trường. Để lượng hóa các nhân tố ảnh hưởng, nghiên cứu sử dụng Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (EFE), Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong (IFE) theo thang điểm từ 1,0 đến 4,0 với điểm trung bình chuẩn 2,5, kết hợp cùng Ma trận SWOT nhằm kiến tạo 4 nhóm chiến lược phối hợp gồm S/O, S/T, W/O và W/T.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ hệ thống báo cáo thống kê định kỳ giai đoạn 2017 – 2019 của Sở Du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Thống kê địa phương, cùng các văn bản chỉ đạo chiến lược như Quyết định số 147/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát ý kiến chuyên gia. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 30 chuyên gia là các nhà hoạch định chính sách du lịch, cán bộ quản lý nhà nước và lãnh đạo các doanh nghiệp lữ hành, khách sạn tiêu biểu trên địa bàn tỉnh. Phương pháp chọn mẫu định ngạch phi ngẫu nhiên theo tiêu chí chuyên môn sâu được lựa chọn nhằm bảo đảm tính am hiểu thực tiễn và độ tin cậy cao của dữ liệu thẩm định trọng số ma trận.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả kết hợp mô hình lượng hóa chiến lược IFE, EFE và SWOT là nhằm chuyển hóa các đánh giá định tính phức tạp thành các chỉ số định lượng khách quan. Quy trình này giúp xác định chính xác năng lực phản ứng của ngành du lịch địa phương trước các tác động vĩ mô, khắc phục tính chủ quan trong quá trình ra quyết định chiến lược. Toàn bộ tiến trình nghiên cứu và thu thập dữ liệu được thực hiện chặt chẽ từ tháng 1 năm 2017 đến tháng 12 năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, lượng khách du lịch và doanh thu toàn ngành ghi nhận mức tăng trưởng nhanh nhưng cơ cấu chi tiêu chưa thực sự cân đối. Tổng lượt khách đến tỉnh tăng từ 11,2 triệu lượt năm 2017 lên 13,5 triệu lượt năm 2018 (tăng 20,5%) và đạt 15,55 triệu lượt năm 2019 (tăng 11,4%). Tổng doanh thu du lịch tăng tương ứng từ 12.310 tỷ đồng năm 2017 lên 16.558 tỷ đồng năm 2019, đạt mức tăng trưởng tổng hợp 34,5% sau ba năm. Tuy vậy, lượng khách lưu trú năm 2019 chỉ đạt 3,71 triệu lượt, chiếm 23,8% tổng khách; trong đó khách quốc tế lưu trú đạt hơn 500.000 lượt, phản ánh thực tế phần lớn khách du lịch chỉ đi về trong ngày.

Thứ hai, quy mô hạ tầng lưu trú phát triển mạnh về số lượng nhưng còn mất cân đối về phân khúc chất lượng cao. Năm 2019, toàn tỉnh có 1.060 cơ sở lưu trú đang hoạt động, nhưng chỉ có 198 cơ sở được xếp hạng chuẩn từ 1 đến 5 sao với 9.988 phòng. Phân khúc cao cấp còn khiêm tốn khi toàn tỉnh chỉ có 4 khách sạn 5 sao và 16 khách sạn 4 sao. Về thu hút dự án, tỉnh có 157 dự án đầu tư du lịch với tổng vốn đăng ký hơn 35,4 ngàn tỷ đồng và 10.758 triệu USD, song tổng vốn thực hiện lũy kế mới đạt hơn 8.000 tỷ đồng và 701,52 triệu USD, cho thấy tiến độ giải ngân còn chậm.

Thứ ba, phân khúc du lịch đường biển có bước nhảy vọt về số lượng chuyến tàu nhưng giá trị gia tăng giữ lại địa phương rất thấp. Năm 2018, cụm cảng đón 122 chuyến tàu biển quốc tế với 250.500 lượt khách, tăng gấp đôi so với 60 chuyến và 124.000 lượt khách năm 2016. Tuy nhiên, do chưa có cảng chuyên dụng cho khách du lịch và thiếu trung tâm mua sắm giải trí cao cấp, khoảng 60% du khách quốc tế chọn các tour đi thẳng về Thành phố Hồ Chí Minh hoặc lưu trú trên tàu thay vì trải nghiệm dịch vụ tại Bà Rịa – Vũng Tàu.

Thứ tư, chất lượng nguồn nhân lực du lịch chưa đáp ứng kịp tốc độ phát triển. Ngành du lịch tỉnh hiện có hơn 10.000 lao động, song 3 cơ sở đào tạo chuyên ngành trên địa bàn chỉ cung cấp khoảng 800 sinh viên tốt nghiệp mỗi năm. Trình độ ngoại ngữ của đội ngũ hướng dẫn viên phần lớn ở mức cơ bản, thiếu hụt nghiêm trọng nhân sự quản trị cao cấp và lao động lành nghề đạt chuẩn quốc tế.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những hạn chế trên bắt nguồn từ sự quá tải của hạ tầng giao thông kết nối liên vùng khi phụ thuộc quá lớn vào tuyến độc đạo Quốc lộ 51, trong khi các dự án Cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu và tuyến đường liên cảng chưa hoàn thành. Bên cạnh đó, các dịch vụ kinh tế đêm, khu vui chơi quy mô quốc tế và sản phẩm quà lưu niệm đặc thù còn thiếu vắng, khiến mức chi tiêu bình quân của du khách năm 2019 chỉ đạt khoảng 1,06 triệu đồng mỗi lượt khách.

So sánh với các trung tâm du lịch biển như Đà Nẵng hay Nha Trang, tỷ lệ giữ chân khách lưu trú của Bà Rịa – Vũng Tàu thấp hơn đáng kể. Khi đối chiếu với các mục tiêu trong Quyết định số 147/QĐ-TTg, việc định vị địa phương trở thành trung tâm du lịch nghỉ dưỡng đẳng cấp quốc tế đòi hỏi sự bứt phá mạnh mẽ về không gian du lịch cao cấp tại Hồ Tràm, Long Hải và Côn Đảo.

Về mặt trực quan hóa học thuật, các dữ liệu trên có thể được thể hiện qua biểu đồ cột kết hợp đường biểu diễn so sánh tốc độ tăng trưởng giữa tổng lượt khách và doanh thu du lịch giai đoạn 2017 – 2019. Cùng với đó, bảng ma trận EFE và IFE tổng hợp 20 yếu tố môi trường then chốt sẽ làm nổi bật vị thế cạnh tranh của tỉnh, minh chứng rõ nét khoảng cách giữa tiềm năng tài nguyên và năng lực khai thác thực tế.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đẩy nhanh huy động vốn đầu tư phát triển hạ tầng giao thông và cảng biển chuyên dụng. Ủy ban nhân dân tỉnh cùng Sở Giao thông Vận tải và Sở Kế hoạch và Đầu tư cần tập trung triển khai hình thức đối tác công tư để sớm hoàn thành tuyến Cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu, đường liên cảng Cái Mép – Thị Vải nối cầu Phước An và xây dựng 1 cảng du lịch chuyên dụng đón tàu khách quốc tế. Mục tiêu đến năm 2025 nâng tỷ lệ giải ngân vốn thực hiện đạt trên 60% tổng vốn đăng ký của 157 dự án du lịch, rút ngắn thời gian di chuyển từ Thành phố Hồ Chí Minh xuống còn 70 phút.

Thứ hai, đa dạng hóa sản phẩm du lịch biển cao cấp và mở rộng mô hình du lịch MICE. Sở Du lịch chủ trì phối hợp với Hiệp hội Du lịch tỉnh quy hoạch các tổ hợp kinh tế đêm, phát triển du lịch MICE tại thành phố Vũng Tàu, du lịch nghỉ dưỡng sinh thái cao cấp tại dải ven biển Long Hải – Phước Hải – Hồ Tràm và du lịch lịch sử tâm linh tại Côn Đảo theo quy hoạch 1.000 ha. Mục tiêu giai đoạn 2021 – 2025 nâng thời gian lưu trú bình quân từ 1,5 ngày lên 2,5 ngày mỗi khách và gia tăng mức chi tiêu bình quân thêm 30%.

Thứ ba, nâng chuẩn chất lượng nguồn nhân lực du lịch theo tiêu chuẩn nghề quốc gia và quốc tế. Sở Du lịch phối hợp với Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Trường Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu cùng 2 trường cao đẳng nghề đẩy mạnh mô hình đào tạo gắn liền thực tế tại doanh nghiệp khách sạn. Mục tiêu đến năm 2025 đào tạo chuẩn hóa cho trên 85% lực lượng lao động trực tiếp trong ngành và nâng quy mô cung ứng nhân sự đạt 1.500 cử nhân, kỹ thuật viên chất lượng cao mỗi năm.

Thứ tư, mở rộng liên kết vùng và triển khai xúc tiến du lịch số hóa. Trung tâm Xúc tiến Đầu tư, Thương mại, Du lịch tỉnh đẩy mạnh hợp tác chuỗi tour liên tỉnh Đông Nam Bộ và Nam Trung Bộ, đồng thời xây dựng nền tảng bản đồ số du lịch thông minh đa ngôn ngữ. Mục tiêu đến năm 2025 thu hút trên 700.000 lượt khách quốc tế lưu trú và đạt mốc doanh thu du lịch toàn tỉnh trên 25.000 tỷ đồng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước và đơn vị hoạch định chính sách du lịch cấp tỉnh. Sở Du lịch, Sở Kế hoạch và Đầu tư cùng Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố có thể sử dụng các kết quả phân tích ma trận EFE, IFE và SWOT làm luận cứ khoa học để hoàn thiện đề án phát triển kinh tế ban đêm và quy hoạch các khu du lịch trọng điểm đến năm 2030.

Thứ hai, ban lãnh đạo các doanh nghiệp lữ hành, khu nghỉ dưỡng và khách sạn. Các đơn vị kinh doanh dịch vụ lưu trú với hơn 1.060 cơ sở trên địa bàn có thể ứng dụng chiến lược khác biệt hóa sản phẩm và tối ưu hóa chuỗi cung ứng dịch vụ nhằm gia tăng tỷ lệ lấp đầy phòng trong các ngày trong tuần.

Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu viên và học viên cao học chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Kinh tế phát triển và Quản trị dịch vụ du lịch. Luận văn cung cấp mô hình nghiên cứu tình huống thực tế chuẩn mực, tích hợp phương pháp đánh giá định lượng ma trận chiến lược cho một địa bàn kinh tế năng động.

Thứ tư, các nhà đầu tư hạ tầng và bất động sản du lịch nghỉ dưỡng. Doanh nghiệp đầu tư trong và ngoài nước có thể tham khảo bức tranh tổng thể về 157 dự án quy hoạch, hiện trạng quỹ đất lâm nghiệp 3.300 ha và tiềm năng khai thác các bãi biển trọng điểm để đưa ra quyết định đầu tư dài hạn chính xác.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Đâu là điểm nghẽn lớn nhất của ngành du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu trong giai đoạn nghiên cứu? Trả lời: Điểm nghẽn lớn nhất là tỷ lệ khách lưu trú thấp, chỉ đạt 23,8% tổng lượt khách năm 2019 với 3,71 triệu lượt trên tổng số 15,55 triệu khách. Tình trạng phụ thuộc vào hạ tầng đường bộ độc đạo và thiếu các tổ hợp giải trí đêm cao cấp khiến mức chi tiêu của du khách còn hạn chế.

Câu hỏi 2: Luận văn đã áp dụng những công cụ quản trị chiến lược nào để đánh giá thực trạng? Trả lời: Nghiên cứu đã ứng dụng đồng bộ Ma trận đánh giá yếu tố bên ngoài (EFE), Ma trận đánh giá yếu tố bên trong (IFE) với thang điểm chuẩn 2,5 và Ma trận kết hợp SWOT để lượng hóa các tác động vĩ mô, từ đó xây dựng 4 nhóm chiến lược S/O, S/T, W/O, W/T có tính khả thi cao.

Câu hỏi 3: Tiềm năng phát triển du lịch tàu biển của tỉnh được đánh giá như thế nào? Trả lời: Địa phương có lợi thế lớn khi đón 122 chuyến tàu biển quốc tế với 250.500 lượt khách năm 2018 tại cụm cảng Cái Mép – Thị Vải. Tuy nhiên, do thiếu cảng hành khách chuyên dụng nên hơn 60% du khách lựa chọn di chuyển đến các địa phương lân cận thay vì lưu trú tại tỉnh.

Câu hỏi 4: Mục tiêu phát triển du lịch của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đặt ra những chỉ tiêu cụ thể nào? Trả lời: Mục tiêu giai đoạn đến năm 2025 và tầm nhìn 2030 tập trung nâng tổng lượng khách lên trên 18 triệu lượt, đưa doanh thu vượt mốc 19.800 tỷ đồng, nâng tỷ trọng khách quốc tế lưu trú đạt trên 17% mỗi năm và giải quyết việc làm cho hơn 15.000 lao động.

Câu hỏi 5: Luận văn mang lại giá trị thực tiễn gì cho các cơ sở lưu trú tại địa phương? Trả lời: Công trình cung cấp bức tranh chi tiết về cơ cấu 1.060 cơ sở lưu trú và 198 khách sạn xếp hạng sao, giúp các nhà quản lý nhận diện phân khúc thị trường ngách, phát triển dịch vụ MICE và khắc phục tính thời vụ thông qua liên kết tour tuyến liên vùng.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản trị chiến lược ngành du lịch, ứng dụng thành công các ma trận IFE, EFE và SWOT vào thực tiễn địa phương.
  • Phân tích sâu sắc bức tranh tăng trưởng của du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu giai đoạn 2017 – 2019, chỉ ra sự tương phản giữa mức tăng doanh thu 16,16% và tỷ lệ khách lưu trú khiêm tốn 23,8%.
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược đồng bộ về huy động vốn hạ tầng, đa dạng hóa sản phẩm MICE, chuẩn hóa nguồn nhân lực và liên kết số hóa vùng.
  • Thiết lập lộ trình triển khai cụ thể cho giai đoạn 2021 – 2025 với mục tiêu giải ngân trên 60% vốn đầu tư và gia tăng thời gian lưu trú bình quân lên 2,5 ngày mỗi du khách.
  • Kêu gọi các nhà quản lý, doanh nghiệp lữ hành và nhà đầu tư ứng dụng ngay khung chiến lược của luận văn nhằm thúc đẩy du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu trở thành trung tâm kinh tế biển chất lượng cao vào năm 2030.