CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ VIỆC LÀM I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về việc làm Việc làm và thất nghiệp là những vấn đề luôn có tính thời sự và là mối quan tâm của mọi người, mọi Chính phủ, mọi tổ chức trong xã hội.
Nhìn chung, trong các lý thuyết về việc làm, người ta thống nhất rằng, một hoạt động được coi là việc làm khi đáp ứng được hai tiêu chuẩn sau đây: - Thứ nhất, đó là các hoạt động không bị pháp luật ngăn cấm. - Thứ hai, hoạt động đó phải đem lại thu nhập cho người lao động hoặc tạo điều kiện cho người lao động tham gia để tạo thu nhập hoặc tiết kiệm chi phí cho gia đình. Bộ luật Lao động của Việt Nam nêu rõ: “Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm” (Điều 18, chương II). Hoạt động đem lại thu nhập có thể nhận diện được dưới các dạng: người lao động làm việc để nhận được tiền công, tiền lương bằng tiền hoặc hiện vật từ người sử dụng lao động; tự đem lại thu nhập cho bản thân thông qua hoạt động kinh tế mà bản thân người lao động làm chủ, tự tổ chức và tiến hành các hoạt động đó; hoặc đem lại thu nhập cho hộ gia đình mà bản thân người lao động thực hiện công việc đó là thành viên của hộ gia đình, do gia đình quản lý.
Như vậy, một hoạt động được coi là việc làm hay không chủ yếu được dựa trờn tớnh hợp pháp và việc tạo ra thu nhập của hoạt động đó. Như vậy, quan điểm việc làm đó cú sự thay đổi. Chính sách kinh tế nhiều thành phần và cơ chế thị trường đã làm thay đổi quan điểm này. Việc làm được xác định trong mọi thành phần kinh tế chứ không chỉ trong khu vực kinh tế Nhà nước như trước đây.
Dịch vụ việc làm Trong một thời gian dài, người ta thường hiểu dịch vụ việc làm là hoạt động môi giới việc làm, là hoạt động trung gian nhằm chắp nối cung cầu về lao động, giúp cho người lao động tìm được việc làm, người sử dụng lao động tìm được lao động cần thuê. Cho đến năm1970, khi Công ước số 142 của tổ chức Lao động quốc tế ILO - “Công ước về hướng nghiệp và đào tạo nghề trong việc phát triển nguồn nhân lực” ra đời, cách hiểu chung về dịch vụ việc làm không chỉ thuần tuý dưới góc độ môi giới việc làm. Sự ra đời của Công ước số 142 đã làm thay đổi căn bản nhận thức về dịch vụ việc làm. Theo đó, dịch vụ việc làm ngoài nhiệm vụ môi giới còn có nhiệm vụ hướng nghiệp và đào tạo nghề.
Mặt khác, cũng theo tinh thần các công ước của tổ chức Lao động quốc tế ILO (Công ước số 34, 88, 96, 168…), hoạt động dịch vụ việc làm còn bao gồm nhiều nhiệm vụ khác như thông tin thị trường lao động, chắp nối cung cầu lao động liên vùng, liên quốc gia… Như vậy, có thể hiểu dịch vụ việc làm là toàn bộ các hoạt động nhằm sắp xếp việc làm có hiệu quả cho người lao động thông qua quá trình chắp nối cung - cầu lao động hoặc tư vấn, trợ giúp để người lao động có thể tự tạo việc làm. Sắp xếp việc làm liên quan đến việc chắp nối kỹ năng, khả năng của người tìm việc với yêu cầu của người sử dụng lao động. Tư vấn tạo việc làm liên quan đến việc cung cấp các thông tin về cơ hội tự tạo việc làm, hỗ trợ các kỹ năng cần thiết để tự tạo việc làm. Để đạt được các mục tiêu trên, dịch vụ việc làm còn bao hàm một số chức năng khác như tư vấn pháp luật, chính sách, tư vấn đào tạo và học nghề, tư vấn thông tin thị trường lao động.
Mạng lưới dịch vụ việc làm Mạng lưới dịch vụ việc làm là một hệ thống bao gồm Trung tâm dịch vụ việc làm, Trung tâm điều phối việc làm. Mối quan hệ giữa chúng được hình thành nhằm hỗ trợ cho người lao động trong tìm kiếm việc làm và hỗ trợ cho người sử dụng lao 6 động, người đào tạo nghề thoả mãn nhu cầu về lao động, về đào tạo trong một vùng lãnh thổ nào đó hoặc liờn vựng. Trung tâm dịch vụ việc làm Trung tâm dịch vụ việc làm (cơ sở, hay tổ chức Dịch vụ việc làm) là các trung tâm được thành lập theo quy định của pháp luật để hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ việc làm. Tài liệu của ILO cho rằng, tổ chức dịch vụ việc làm có thể được xem như là các tổ chức mà Nhà nước cho phép thành lập nhằm: - Cung cấp các dịch vụ nhằm hỗ trợ người thất nghiệp và giúp đỡ người tìm việc tham gia hoặc tái tham gia vào thị trường lao động.
- Tổ chức thị trường việc làm nhằm đảm bảo các chỗ làm việc trống được lấp bằng những ứng viên thoả mãn tốt nhất các yêu cầu của công việc đòi hỏi trong thời gian sớm nhất; bảo đảm nhu cầu lao động hiện tại và tương lai được đáp ứng bởi cung lao động phù hợp. - Đề xuất và thực hiện các giải pháp tạo việc làm mới. Tổ chức dịch vụ việc làm có thể là tổ chức của Nhà nước hoặc là tổ chức của tư nhân. Trung tâm điều phối việc làm Trung tâm điều phối việc làm là các trung tâm thực hiện các hoạt động điều phối việc làm.
Hoạt động điều phối việc làm là hoạt động chắp nối thông tin cung - cầu về lao động giữa các Trung tâm dịch vụ việc làm các địa phương hoặc cỏc vựng lãnh thổ nhằm giải quyết sự mất cân đối cung - cầu lao động. Trung tâm điều phối việc làm được hiểu như là cầu nối giữa các Trung tâm dịch vụ việc làm. Nó có nhiệm vụ tổng hợp, phân tích, xử lý các nguồn thông tin cung - cầu về lao động do các Trung tâm dịch vụ việc làm cung cấp hoặc từ các nguồn khác. Trên cơ sở nhu cầu về việc làm và nhu cầu cần tuyển lao động ở các địa phương, trung tâm này có thể thực hiện chức năng trung gian nhằm tuyển lao 7 động ở địa phương thừa lao động cung ứng cho địa phương thiếu lao động, góp phần làm giảm sự mất cân đối cung - cầu lao động giữa các vùng lãnh thổ.
Trên thực tế, sự tồn tại của các trung tâm chỉ thuần tuý thực hiện chức năng điều phối việc làm là không phổ biến. Thông thường, các Trung tâm dịch vụ việc làm thực hiện luôn chức năng này. Môi giới việc làm Trong các tài liệu về dịch vụ việc làm và trong nhôn ngữ thông thường rất hay đề cập đến khái niệm môi giới việc làm. Môi giới, hiểu theo nghĩa thông thường nhất là đứng giữa, làm trung gian, giúp hai bên giao tiếp với nhau nhằm đạt được một mục đích nào đó mà hai bên theo đuổi.
Môi giới việc làm chính là đứng giữa làm trung gian cho hai bên, một bên là người tìm việc, một bên là người sử dụng lao động có nhu cầu tuyển người vào chỗ làm việc trống, để họ tiếp xúc, tìm hiểu lẫn nhau nhằm đạt được mục đích của mỗi bên, đó là người lao động tìm được việc làm phù hợp và người sử dụng lao động tuyển chọn được lao động theo yêu cầu của công việc. Môi giới việc làm là điểm xuất phát của hầu hết các cở dịch vụ việc làm. Trong đề tài này, môi giới việc làm được hiểu là chức năng truyền thống của các giao dịch về việc làm. Nó có thể định nghĩa như là quá trình thông qua đó các cơ sở dịch vụ việc làm thu xếp để người tìm việc tìm được việc làm và người sử dụng lao động tuyển được người phù hợp.
Sự cần thiết của hoạt động môi giới việc làm là ở chỗ cả người sử dụng lao động và người lao động tìm việc đều không có đầy đủ thông tin về các chỗ làm việc trống và các ứng viên tìm việc, do vậy, cần có một loại dịch vụ giúp chắp nối hai bên với nhau. Không có dịch vụ này thỡ cỏc chừ làm việc trống cần một thời gian dài hơn mới lấp đầy được và người tìm việc ở tình trạng thất nghiệp trong một thời gian dài hơn. Môi giới việc làm là nỗ lực nhằm xoá bỏ sự thiếu hụt về thông tin này và đưa người tìm việc và người sử dụng lao động đến được với nhau. Giới thiệu việc làm So với môi giới việc làm thì giới thiệu việc làm có đôi chút khác biệt.
Trong môi giới việc làm, cơ sở dịch vụ việc làm không chỉ giới thiệu cho người tìm việc và người tuyển dụng lao động gặp nhau mà còn quan tâm đến kết quả là hai bên đi đến được một thoả thuận là người tìm việc chấp nhận chỗ làm việc do nhà tuyển dụng đưa ra; nhà tuyển dụng chấp nhận tuyển người do cơ sở dịch vụ việc làm giới thiệu. Giới thiệu việc làm nhiều khi chỉ là giúp cho người tìm việc và người sử dụng lao động gặp nhau, họ tự thương thuyết, thoả thuận và cơ sở dịch vụ việc làm nhiều khi không quan tâm lắm đến kết quả cuối cùng. Giới thiệu việc làm là quá trình trong đó cơ sở dịch vụ việc làm có những thông tin về chỗ làm việc trống và giới thiệu cho người tìm việc đến địa chỉ của người sử dụng lao động để tìm hiểu và có thể đi đến thoả thuận về việc làm; hoặc cơ sở dịch vụ việc làm có thông tin về người tìm việc và giới thiệu cho người sử dụng lao động tiếp xúc và có thể đi đến những thoả thuận tuyển dụng. Cung ứng lao động Cung ứng lao động là một loại dịch vụ mà các cơ sở dịch vụ việc làm có thể cung cấp cho người sử dụng lao động.
Cung ứng lao động được dùng để chỉ việc cơ sở dịch vụ việc làm và người sử dụng lao động ký kết hợp đồng cung ứng lao động trong đó cơ sở dịch vụ việc làm chịu trách nhiệm tuyển chọn và cung cấp đủ số lượng lao động đáp ứng các yêu cầu về kỹ năng, tay nghề cho người sử dụng lao động. Cung ứng lao động thường xảy ra khi nhà tuyển dụng không có thông tin và thời gian tìm kiếm người lao động và tin chắc rằng cơ sở dịch vụ việc làm có đủ năng lực giúp họ làm việc đó.