CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ INTERNET BANKING TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN 1. DỊCH VỤ INTERNET BANKING 1. Khái niệm về dịch vụ Internet Banking Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về dịch vụ Internet Banking: Dịch vụ Internet Banking là dịch vụ ngân hàng qua Internet, khách hàng có thể thực hiện các giao dịch với ngân hàng bằng máy tính hay thiết bị điện tử cầm tay có kết nối Internet (Sayar và Wolfe, 2007). Hay, dịch vụ Internet Banking là hệ thống phần mềm vi tính cho phép khách hàng tìm hiểu hay mua dịch vụ ngân hàng thông qua việc nối mạng máy vi tính của mình với ngân hàng (The Australian Banker, 1999).
Nó cho phép khách hàng có thể giao dịch ngân hàng thông qua mạng Internet vào bất cứ lúc nào, ở bất cứ đâu mà khách hàng cho là phù hợp nhất. Do đó, khách hàng có thể giao dịch 24 giờ trong ngày, 7 ngày trong tuần tại nhà riêng hoặc ở văn phòng, khi đang trong nước hay đi nước ngoài. Theo luận văn, dịch vụ Internet Banking là là các dịch vụ ngân hàng được cung cấp thông qua mạng Internet, khách hàng có thể thực hiện các giao dịch với ngân hàng bằng máy tính hay thiết bị điện tử cầm tay có kết nối Internet. Đặc điểm của dịch vụ Internet Banking Các nhà quản lý trong ngành ngân hàng hiện nay đã xem Internet Banking là dịch vụ cần chú trọng đầu tư bởi kênh phân phối sản phẩm, dịch vụ mới này đem lại nhiều thuận lợi cho cả ngân hàng và khách hàng.
Theo Jayawardhena và Foley (2000), những đặc điểm của dịch vụ Internet Banking bao gồm: Tiết kiệm chi phí: Phân phối sản phẩm dịch vụ qua Internet ít chi phí hơn so với những cách phân phối thông qua việc đầu tư xây dựng các chi nhánh ngân hàng phân bố rộng khắp khu vực dân cư. Gia tăng khả năng tiếp cận khách hàng: người sử dụng Internet hiện tại là khách hàng tiềm năng có giá trị. Tăng khả năng tùy biến: phân phối sản phẩm dịch vụ qua kênh Internet đem lại khả năng điều chỉnh linh hoạt phù hợp với nhu cầu của khách hàng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Các dịch vụ Internet Banking Truy vấn thông tin tài khoản: Sử dụng dịch vụ Internet Banking khách hàng có thể: Tra cứu và cập nhật thông tin tài khoản và số dư tài khoản, tra cứu sao kê tài khoản trong khoản thời gian yêu cầu, tra cứu thông tin của các loại thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ; tra cứu thông tin tiền gửi tiết kiệm, thư tín dụng, bảo lãnh. Thanh toán: Thông qua tài khoản tại ngân hàng, khách hàng có thể chuyển khoản tới người thụ hưởng sử dụng số tài khoản, số điện thoại hoặc số thẻ ATM: Chuyển khoản tới tài khoản của chính mình, chuyển khoản nội bộ, chuyển khoản liên ngân hàng, chuyển khoản liên ngân hàng qua số thẻ, đặt lịch chuyển khoản, quản lí lịch chuyển khoản; Thanh toán hóa đơn điện, nước, điện thoại di động, cố định trả sau, Home phone, ADSL, hóa đơn tiền điện; Thanh toán trực tuyến: thanh toán trực tuyến tiền mua hàng hóa, dịch vụ tại các website đã tích hợp thanh toán với ngân hàng thông qua các cổng thanh toán, thanh toán vé máy bay của các hãng hàng không nội địa và quốc tế,. Tiết kiệm điện tử: Với dịch vụ Internet Banking, khách hàng không cần phải đến ngân hàng mà cũng có thể: Mở sổ tiết kiệm, rút và tất toán sổ tiết kiệm, xem thông tin sổ tiết kiệm,. Nếu khách hàng có thói quen tiết kiệm, khách hàng có thể tự cài đặt tự động chuyển khoản một phần tiền lương hoặc một phần của tài khoản thanh toán sang tài khoản tiết kiệm hoặc một quỹ đầu tư gửi tiết kiệm.
Hỗ trợ đầu tư trực tuyến: Với tính năng này, khách hàng của ngân hàng có thể tự động kết nối và chuyển tiền vào tài khoản đầu tư chứng khoán của khách hàng tại các công ty. Đăng ký và thay đổi yêu cầu sử dụng các dịch vụ khác: Thông qua dịch vụ Internet Banking, khách hàng có thể đăng ký sử dụng hoặc yêu cầu thay đổi các dịch vụ ngân hàng điện tử khác như: Dịch vụ SMS Banking, Mobile Banking, dịch vụ nhận sao kê tài khoản hàng tháng qua email. và nhiều tiện ích gia tăng khác của ngân hàng. Rủi ro của dịch vụ Internet Banking 1.
Rủi ro đối với ngân hàng Rủi ro tín dụng (Credit risk): Internet Banking tạo cơ hội cho các ngân hàng mở rộng phạm vi hoạt động, khi giao dịch với khách hàng trên mạng, ngân hàng thiếu sự tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, do đó khó có thể kiểm tra nhân thân, tài TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 sản thế chấp cũng như các cam kết đảm bảo,… là một trong những nhân tố quan trọng để có những quyết định cho vay an toàn. Rủi ro lãi suất (Rate risk): Rủi ro lãi suất là loại rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi của lãi suất thị trường hoặc của những yếu tố có liên quan đến lãi suất dẫn đến tổn thất về vốn hoặc làm giảm thu nhập của ngân hàng (Gunajit Sarma và Pranav Kumar Singh, 2010). Internet Banking cho phép các ngân hàng thu hút các khoản tiền gửi và thực hiện cho vay từ nguồn khách hàng rộng lớn. Việc tiếp cận khách hàng có mức xếp hạng tốt để củng cố thêm nhu cầu cho các nhà quản lý trong việc duy trì hệ thống quản lý tài sản nợ - có thích hợp sẽ dẫn đến rủi ro lãi suất nhất định.
Rủi ro thanh khoản (liquidity risk): Rủi ro thanh khoản xảy ra do ngân hàng không có khả năng chi trả các nghĩa vụ nợ khi đến hạn thanh toán. Các sản phẩm được cung cấp thông qua dịch vụ Internet Banking phải được thiết kế phù hợp với hệ thống quản lý danh mục đầu tư cho vay và cân đối tài sản nợ - có của ngân hàng để giảm thiểu rủi ro thanh khoản (Gunajit Sarma và Pranav Kumar Singh, 2010). Rủi ro giá cả (price risk): Rủi ro giá cả phát sinh do những thay đổi trong giá trị của danh mục đầu tư các công cụ tài chính được giao dịch. Nhờ hoạt động Internet Banking, ngân hàng thể mở rộng hoạt động môi giới, đảm bảo và bán các khoản cho vay, do đó dễ gặp rủi ro giá cả hơn.
Rủi ro tỷ giá (exchange rate risk): Rủi ro tỷ giá phát sinh trong quá trình cho vay ngoại tệ hoặc quá trình kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng khi tỉ giá biến động theo chiều hướng bất lợi. Thông qua Internet Banking, ngân hàng có thể đẩy mạnh hoạt động vay, cho vay hoặc kinh doanh ngoại tệ với khách hàng từ nhiều quốc gia, bằng những loạn tiền tệ khác nhau, do đó rủi ro cũng cao hơn. Rủi ro giao dịch (transaction risk): Rủi ro giao dịch là rủi ro hiện tại và tiềm tàng đối với thu nhập và vốn của ngân hàng phát sinh do sự gian lận, sai sót, hoặc do mất khả năng cung cấp sản phẩm hay dịch vụ, duy trì lợi thế cạnh tranh và quản lý thông tin. Rủi ro pháp lý (compliance risk): Rủi ro pháp lý phát sinh do những vi phạm hay không tuân thủ luật lệ, quy định, quy tắc, tập quán hay tiêu chuẩn đạo đức.
Internet Banking giúp ngân hàng mở rộng phạm vi hoạt động ra các quốc gia và khu vực khác nhau, làm tăng rủi ro pháp lý. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Rủi ro chiến lược (strategy risk): Rủi ro chiến lược phát sinh do những quyết định sai, không thực thi đúng các chiến lược hay do thiếu đáp ứng đối với những thay đổi của ngành. Sản phẩm và công nghệ Internet Banking mà ngân hàng đưa ra có thể không phù hợp với những mục tiêu trong chiến lược của ngân hàng. Cũng có thể ngân hàng sẽ không có đủ nguồn lực và trình độ chuyên môn để phát hiện, theo dõi và kiểm soát các rủi ro trong Internet Banking.
Rủi ro danh tiếng (reputaion risk): Rủi ro danh tiếng phát sinh do sự đánh giá không tốt của công chúng, làm ảnh hưởng đến khả năng thiết lập các mối quan hệ mới hay duy trì các mối quan hệ cũ. Danh tiếng của ngân hàng có thể bị ảnh hưởng nếu Internet Banking mà ngân hàng cung cấp kém chất lượng, thậm chí có thể làm cho khách hàng và công chúng xa lánh. Rủi ro đối với khách hàng Rủi ro đối với khách hàng bao gồm các loại rủi ro sau: Rủi ro hiệu quả, rủi ro tài chính, rủi ro xã hội, rủi ro thời gian và rủi ro bảo mật. Rủi ro hiệu quả: Rủi ro hiệu quả liên quan đến thiệt hại phát sinh do thiếu hoặc hỏng hóc của các trang web ngân hàng trực tuyến.
Theo nghiên cứu của Yiu và các cộng sự (2007), sự cố bất ngờ của các máy chủ trang web có thể dẫn đến tổn thất bất ngờ trong khi tiến hành các giao dịch trực tuyến. Rủi ro tài chính: Rủi ro tài chính được định nghĩa là khả năng khách hàng bị mất tiền do lỗi khi khách hàng thực hiện các giao dịch của mình thông qua hệ thống internet hoặc khách hàng bị lạm dụng tài khoản ngân hàng. Theo nghiên cứu của Kuisma và các cộng sự (2007), nhiều khách hàng sợ mất tiền trong khi thực hiện giao dịch, chuyển tiền qua Internet do các giao dịch này thiếu sự đảm bảo, không thông qua các thủ tục chính thức và khác hàng không nhận được biên lai. Do đó, khách hàng thường gặp khó khăn trong yêu cầu ngân hàng bồi thường khi xảy ra lỗi giao dịch.
Rủi ro xã hội: Rủi ro xã hội được định nghĩa như là một mối đe dọa có thể ảnh hưởng đến hình ảnh và uy tín của bản thân khách hàng do mua hoặc sử dụng các sản phẩm hoặc dịch vụ nhất định. Theo định nghĩa này, việc sử dụng dịch vụ Internet Banking có thể gây ra sự bất tiện đối với gia đình, người thân, hoặc đồng nghiệp của khách hàng mà lần lượt ảnh hưởng đến quan điểm của họ trong việc sử dụng dịch vụ. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Rủi ro thời gian: Rủi ro thời gian được định nghĩa là rủi ro xảy ra khi khách hàng phải tốn rất nhiều thời gian lãng phí để triển khai thực hiện, học cách sử dụng và xử lý sự cố của một dịch vụ trực tuyến mới. Khách hàng có thể tốn nhiều thời gian để xử lý trong trường hợp gặp sự cố khi thực hiện những giao dịch gấp qua hệ thống Internet Banking.
Rủi ro bảo mật: Bảo mật được được định nghĩa như là một mối đe dọa mà tạo ra hoàn cảnh, điều kiện, hoặc sự kiện với khả năng gây ra những khó khăn về kinh tế khi để các dữ liệu hoặc thông tin trên mạng bị hủy, tiết lộ, sửa đổi hoặc bị gian lận và lạm dụng.