Chương 1: Tổng quan lý thuyết về phát triển sản phẩm bảo hiểm qua ngân hàng - Chương 2: Thực trạng phát triển sản phẩm bảo hiểm qua ngân hàng tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Bảo hiểm nhân thọ AIA Việt Nam - Chương 3: Giải pháp phát triển sản phẩm bảo hiểm qua ngân hàng tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Bảo hiểm nhân thọ AIA Việt Nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM BẢO HIỂM QUA NGÂN HÀNG 1.1 Cơ sở lý luận về kinh doanh bảo hiểm 1.1 Kinh doanh bảo hiểm Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Trên góc độ tài chính, kinh doanh bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ tài chính nhằm phân phối lại những tổn thất khi rủi ro xảy ra. Trên góc độ pháp lý, kinh doanh bảo hiểm thực chất là một bản cam kết mà một bên đồng ý bồi thường cho bên kia khi gặp rủi ro nếu bên kia đóng phí bảo hiểm. Do đó, kinh doanh bảo hiểm là các quan hệ kinh tế gắn liền với việc huy động các nguồn tài chính thông qua sự đóng góp của các tổ chức và cá nhân tham gia bảo hiểm.
Kinh doanh bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít. Kinh doanh bảo hiểm có thể là một phương sách hạ giảm rủi ro bằng cách kết hợp một số lượng đầy đủ các đơn vị đối tượng để biến tổn thất cá thể thành tổn thất cộng đồng và có thể dự tính được. Hoạt động này giúp một cá nhân có quyền được hưởng trợ cấp nhờ vào một khoản đóng góp cho mình hoặc cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro. Khoản trợ cấp này do một công ty bảo hiểm có trách nhiệm đối với toàn bộ các rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê.
Kinh doanh bảo hiểm là một loại dịch vụ đặc biệt và vừa mang tính bồi hoàn, vừa mang tính không bồi hoàn. Bảo hiểm có vai trò nhằm bảo toàn vốn sản xuất kinh doanh và ổn định đời sống của người tham gia bảo hiểm, đề phòng và hạn chế tổn thất, góp phần thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế giữa các nước thông qua hoạt động tái bảo hiểm. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Các sản phẩm kinh doanh bảo hiểm 1.1 Căn cứ vào đối tƣợng bảo hiểm - Bảo hiểm tài sản: là loại bảo hiểm lấy tài sản làm đối tượng bảo hiểm. Khi xảy ra rủi ro tổn thất về tài sản như mất mát, hủy hoại về vật chất, người bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm căn cứ vào giá trị thiệt hại thực tế và mức độ đảm bảo thuận tiện hợp đồng.
Các loại bảo hiểm tài sản như bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, bảo hiểm thân tàu, thuyền, ô tô, bảo hiểm hỏa hoạn… - Bảo hiểm trách nhiệm dân sự: đối tượng bảo hiểm là trách nhiệm phát sinh do ràng buộc của các quy định trong luật dân sự, theo đó, người được bảo hiểm phải bồi thường bằng tiền cho người thứ ba những thiệt hại gây ra do hành vi của mình hoặc do sự vận hành của tài sản thuộc sở hữu của chính mình. Bảo hiểm trách nhiệm dân sự có thể là bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp hoặc bảo hiểm trách nhiệm công cộng. - Bảo hiểm con ngƣời: đối tượng của loại hình này chính là tính mạng, thân thể và sức khỏe của con người. Người ký kết hợp đồng bảo hiểm, nộp phí bảo hiểm để thực hiện mong muốn nếu như rủi ro xảy ra làm ảnh hưởng tính mạng, sức khỏe của người được bảo hiểm thì họ hoặc một người thụ hưởng hợp pháp sẽ nhận được khoản tiền do người bảo hiểm trả.
Bảo hiểm con người có thể là bảo hiểm nhân thọ hoặc bảo hiểm tai nạn, bệnh tật. Các loại bảo hiểm con người bao gồm: Bảo hiểm nhân thọ: bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm hỗn hợp, bảo hiểm trả tiền định kỳ và các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ khác do Chính phủ quy định. Bảo hiểm phi nhân thọ: bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm tai nạn con người, bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại, bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sông, đường sắt và bảo hiểm hàng không, bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm cháy nổ, bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu, bảo hiểm trách nhiệm chung, bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 chính, bảo hiểm thiệt hại kinh doanh, bảo hiểm nông nghiệp và các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ khác do Chính phủ quy định.2 Căn cứ vào phƣơng thức quản lý - Bảo hiểm tự nguyện: là những loại bảo hiểm mà hợp đồng được kết lập dựa hoàn toàn trên sự cân nhắc và nhận thức của người được bảo hiểm. Đây là tính chất vốn có của bảo hiểm thương mại khi nó có vai trò là một hoạt động dịch vu cho sản xuất và sinh hoạt con người.
- Bảo hiểm bắt buộc: được hình thành trên cơ sở luật định nhằm bảo vệ lợi ích của nạn nhân trong các vụ tổn thất và bảo vệ lợi ích của toàn bộ nên kinh tế - xã hội. Các hoạt động nguy hiểm có thể dẫn đến tổn thất con người và tài chính trầm trọng gắn liền với trách nhiệm dân sự nghề nghiệp thường là đối tượng của sự bắt buộc này. Ví dụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới, trách nhiệm dân sự của thợ săn. Tuy nhiên, sự bắt buộc chỉ là bắt buộc người có đối tượng mua bảo hiểm chứ không bắt buộc mua bảo hiểm ở đâu.
Tính chất tương thuận của hợp đồng bảo hiểm được ký kết vẫn còn nguyên vì người được bảo hiểm vẫn tự do lựa chọn nhà bảo hiểm cho mình.3 Căn cứ vào kỹ thuật bảo hiểm - Các loại bảo hiểm dựa trên kỹ thuật phân bổ: là các loại bảo hiểm đảm bảo cho các rủi ro có tính chất ổn định (tương đối) theo thời gian và thường độc lập với tuổi thọ của con người (nên gọi là bảo hiểm phi nhân thọ). Hợp đồng bảo hiểm loại này thường là ngắn hạn (một năm). - Các loại bảo hiểm dựa trên kỹ thuật tồn tích vốn: là các loại bảo hiểm đảm bảo cho các rủi ro có tính chất thay đổi (rõ rệt) theo thời gian và đối tượng, thường gắn liền với tuổi thọ con người (nên gọi là bảo hiểm nhân thọ). Các hợp đồng loại này thường là trung và dài hạn (10 năm, 20 năm, trọn đời…).4 Căn cứ vào tính chất các khoản bồi thƣờng - Các loại bảo hiểm có số tiền bảo hiểm phải trả theo nguyên tắc bồi thƣờng: theo nguyên tắc này, số tiền mà người bảo hiểm trả cho người được bảo hiểm không bao giờ vượt quá giá trị thiệt hại thực tế mà người được bảo hiểm đã phải TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 gánh chịu.
Các loại bảo hiểm này gồm có bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự (gọi chung là bảo hiểm thiệt hại). Với loại hình bảo hiểm này, về nguyên tắc người mua bảo hiểm không được ký hợp đồng trên giá. - Các loại bảo hiểm có số tiền bảo hiểm trả theo nguyên tắc khoán: người được bảo hiểm sẽ nhận được số tiền khoán theo đúng mức mà họ đã thỏa thuận trước trên hợp đồng bảo hiểm với người bảo hiểm tùy thuộc và phù hợp với nhu cầu cũng như khả năng đóng phí. Đây chính là các loại bảo hiểm nhân thọ và một số trường hợp của bảo hiểm tai nạn, bệnh tật.
Với loại bảo hiểm này, về nguyên tắc người mua bảo hiểm có thể cùng một lúc ký nhiều hợp đồng bảo hiểm cho một đối tượng và không bị hạn chế số tiền bảo hiểm.3 Nguồn thu từ kinh doanh bảo hiểm 1.1 Nguồn thu từ phí bảo hiểm Khi một công ty bảo hiểm thực hiện kinh doanh bảo hiểm thì công ty này đang thực hiện một quan hệ kinh tế với người tham gia bảo hiểm nhằm xử lý các rủi ro, các biến cố và các tổn thất về tài chính, nhân mạng có thể xảy ra trong cuộc sống của người tham giao bảo hiểm. Hơn nữa, kinh doanh bảo hiểm bảo đảm cho quá trình tái sản xuất và đời sống của xã hội được diễn ra bình thường và là biện pháp chia sẻ rủi ro của một người hay của số một ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại; bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một quỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên trong cộng đồng không may bị thiệt hại do rủi ro đó gây ra. Bảo hiểm được xem như là một cách thức chuyển giao rủi ro tiềm năng một cách công bằng từ một cá thể sang cộng đồng thông qua phí bảo hiểm. Người tham gia bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm tùy theo hợp đồng giữa công ty bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm.
Đây là nguồn thu từ kinh doanh bảo hiểm của công ty bảo hiểm. Nếu như người tham gia bảo hiểm gặp các biến cố như tổn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 thất về tài chính hay nhân mạng thì công ty bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường theo hợp đồng.2 Nguồn thu từ hoạt động đầu tƣ tài chính: Nguồn thu từ hoạt động đầu tư tài chính là nguồn thu từ việc sử dụng các khoản phí bảo hiểm thu được để đầu tư tài chính như: tiền gửi, đầu tư bất động sản, chứng khoán… Thu nhập từ hoạt động đầu tư tài chính giúp doanh nghiệp bù đắp các chi phí kinh doanh, có điều kiện để giảm phí bảo hiểm, tăng khả năng ký kết hợp đồng bảo hiểm, nâng cao mức giữ lại tron các hợp đồng tái bảo hiểm, từ đó ổn định và nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh. Trong doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, đầu tư quỹ dự phòng là bắt buộc vì tính chất kỹ thuật của nghiệp vụ bảo hiểm này. Nếu các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ không đầu tư hoặc thu nhập từ hoạt động đầu tư không đủ lớn để bù đắp “các khoản nợ tiết kiệm” đối với người bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm sẽ lâm vào thua lỗ; trầm trọng hơn có thể dẫn tới phá sản.