Luận văn: Thích ứng với biến đổi khí hậu của hộ nuôi tôm tại Hải Lạng, Tiên Yên

Luận văn phân tích tác động của biến đổi khí hậu đến nghề nuôi tôm tại Hải Lạng, Quảng Ninh, đồng thời đề xuất các giải pháp thích ứng hiệu quả.

Chuyên ngành

Biến đổi khí hậu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2023

94
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Thực trạng Biến đổi Khí hậu tại Hải Lạng Quảng Ninh

Xã Hải Lạng, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh đang chịu tác động mạnh mẽ từ biến đổi khí hậu. Khu vực này trải qua những thay đổi đáng kể về nhiệt độ, lượng mưa và nước biển dâng. Dữ liệu từ Đại học Quốc gia Hà Nội cho thấy sự gia tăng liên tiếp của các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, lũ và hạn hán. Những biến động này ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động nuôi tôm - ngành kinh tế chính của địa phương. Nước biển dâng gây xâm nhập mặn vào các ao nuôi, làm thay đổi độ mặn và ảnh hưởng đến sự phát triển của tôm. Nắng nóng kéo dài khiến cơn bão và mưa lớn trở nên nguy hiểm hơn. Những thách thức này đòi hỏi các hộ nuôi tôm phải có giải pháp thích ứng hiệu quả để duy trì sản xuất bền vững.

1.1. Sự thay đổi Nhiệt độ và Lượng mưa

Nhiệt độ tại Hải Lạng có xu hướng tăng từ năm sang năm, gây ra nắng nóng kéo dài vào mùa hè. Mặt khác, lượng mưa trở nên bất thường với những cơn mưa lớn tập trung vào thời kỳ nhất định. Các hộ nuôi tôm ghi nhận rõ sự thay đổi này ảnh hưởng đến chất lượng nướcsức khỏe tôm. Tôm trở nên dễ mắc bệnh hơn trong điều kiện nhiệt độ không ổn định.

1.2. Nước biển dâng và Xâm nhập mặn

Nước biển dâng là một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất tại Hải Lạng. Hiện tượng này dẫn đến xâm nhập mặn sâu vào đất liền, ảnh hưởng đến ao nuôi tôm và hạ tầng nông nghiệp. Độ mặn tăng cao làm thay đổi điều kiện sống của tôm, đòi hỏi các hộ phải điều chỉnh kỹ thuật nuôilựa chọn giống tôm phù hợp.

II. Tác động của Biến đổi Khí hậu đến Nuôi tôm

Biến đổi khí hậu tạo ra những tác động đa chiều đối với hoạt động nuôi tôm tại Hải Lạng. Những hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, lũ, hạn hánrét đậm gây thiệt hại nặng nề về sản lượng và hiệu quả kinh tế. Nắng nóng kéo dài làm tăng tỷ lệ mắc bệnh của tôm, yêu cầu chi phí phòng trị bệnh cao hơn. Ngập lụt từ mưa lớn phá hủy ao nuôi, làm mất nguồn nước sạch. Hạn hán gây khó khăn trong cấp nước cho ao nuôi. Những tác động này buộc các hộ phải đưa ra các biện pháp thích ứng để bảo vệ sản xuất, bao gồm đầu tư hạ tầng, thay đổi kỹ thuật nuôilựa chọn giống mới. Việc hiểu rõ các tác động này là tiền đề để xây dựng chiến lược thích ứng hiệu quả.

2.1. Tác động của Ngập lụt và Lũ

Ngập lụt làm tổn hại trực tiếp đến ao nuôi tôm, phá vỡ đê bao, làm mất nước. Các hộ nuôi tôm mất hàng tháng chăm sóc trong một đêm. Thiệt hại kinh tế từ lũ lớn không thể tính toán hết. Để ứng phó, nhiều hộ đã nâng cao đê bao, xây dựng hệ thống thoát nướccải tạo ao nuôi có khả năng chống lũ.

2.2. Tác động của Rét đậm và Hạn hán

Rét đậm, rét hại vào mùa đông làm tôm chậm tăng trưởng hoặc chết hàng loạt. Hạn hán trong mùa khô khiến ao nuôi thiếu nước ngọt, tăng độ mặn vượt quá khả năng chịu đựng của tôm. Các hộ nuôi tôm phải lập kế hoạch cấp nước kỹ lưỡng và lựa chọn mùa vụ phù hợp.

III. Giải pháp Thích ứng Nuôi tôm Hiệu quả

Để thích ứng với biến đổi khí hậu, các hộ nuôi tôm tại Hải Lạng đã áp dụng nhiều giải pháp thích ứng sáng tạo và hiệu quả. Các biện pháp kỹ thuật nuôi cải tiến bao gồm kiểm soát chất lượng nước bằng cách sử dụng hệ thống lọc nướcbơm tuần hoàn. Thay đổi giống tôm sang những loài chịu được độ mặn caonhiệt độ biến thiên là giải pháp quan trọng. Đầu tư hạ tầng như xây dựng hệ thống tưới tiêu, nâng cao đê bao, làm lạnh ao nuôi giúp kiểm soát điều kiện nuôi. Thay đổi cơ cấu nuôi từ nuôi tôm năng suất cao sang nuôi tôm bền vững hoặc kết hợp nông lâm ngư cũng là hướng đi tốt. Ngoài ra, nâng cao nhận thứcđào tạo kỹ thuật cho người nuôi tôm là yếu tố then chốt để giảm thiểu rủi ro.

3.1. Thay đổi Kỹ thuật Nuôi tôm

Kỹ thuật nuôi tôm cần được cơi nới để thích ứng với điều kiện nước biển dângthay đổi khí hậu. Các hộ áp dụng quản lý chất lượng nước tốt hơn, theo dõi độ mặn, pH, oxy hàng ngày. Sử dụng nhân tạo để tạo ra các giống tôm chịu được điều kiện khắc nghiệt. Tập trung vào quản lý bệnh phòng hơn là chữa trị.

3.2. Đầu tư Hạ tầng và Trang thiết bị

Đầu tư hạ tầng là nền tảng của thích ứng bền vững. Các hộ xây dựng hệ thống tưới tiêu để cấp nước khi hạn hán. Nâng cao đê bao phòng ngập lụt. Lắp đặt máy bơmhệ thống lọc nước cải thiện chất lượng nước nuôi. Làm lạnh ao nuôi bằng cách trồng cây che phủ.

IV. Khuyến nghị Phát triển Nuôi tôm Bền vững

Để phát triển nuôi tôm thích ứng với biến đổi khí hậu tại Hải Lạng bền vững, cần có những khuyến nghị chính sáchhỗ trợ kỹ thuật. Nhà nước nên tạo điều kiện tài chính để các hộ đầu tư hạ tầng bền vững, cấp vốn vay ưu đãi cho cải tạo ao nuôi. Chuyên gia khí hậunông thôn cần hướng dẫn kỹ thuật cụ thể cho các hộ nuôi tôm. Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm về bão, lũ, hạn hán giúp các hộ chủ động ứng phó. Thúc đẩy hình thành hợp tác xã để các hộ nhỏ lẻ chia sẻ kinh nghiệmtiếp cận công nghệ mới. Truyền thông nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu giúp người dân hiểu rõ rủi rocơ hội trong sản xuất. Cuối cùng, cần xây dựng tiêu chí chứng chỉ cho nuôi tôm bền vững để tăng giá trị sản phẩmđộng lực của các hộ.

4.1. Hỗ trợ Chính sách và Tài chính

Chính phủ địa phương cần xây dựng chương trình hỗ trợvốn vay ưu đãibảo hiểm nông nghiệp. Giảm thuế cho các hộ đầu tư hạ tầng để thích ứng khí hậu. Hỗ trợ kinh phí cho đào tạo kỹ thuật nuôi tôm. Bảo hiểm mất mùa giúp hạn chế rủi ro từ biến đổi khí hậu.

4.2. Nâng cao Nhận thức và Truyền thông

Truyền thông về biến đổi khí hậu cần được tăng cường thông qua các buổi tập huấn, tờ rơi, chương trình truyền hình. Chia sẻ kinh nghiệm thành công từ các hộ đi trước. Giáo dục cộng đồng về giảm thiểu rủi rothích ứng bền vững.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các nghiên cứu đi trước BĐKH cùng với những biểu hiện của nó đang trở thành một vấn đề thách thức của nhân loại trong thế kỷ 21. Những tác động tiềm tàng của BĐKH được ghi nhận ở mọi nơi, mọi lĩnh vực [9]. Do vậy, đánh giá tác động của BĐKH và thích ứng với BĐKH được coi là chìa khóa để giảm khả năng dễ bị tổn thương và tăng cường năng lực chống chịu với những biến đổi của thời tiết.

Đây là vấn đề không những nhận được sự quan tâm của mọi cộng đồng, mọi quốc gia mà còn nhận được sự quan tâm của nhiều học giả trên thế giới. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra những ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của BĐKH đến mọi mặt của đời sống xã hội từ các lĩnh vực sản xuất, đến sức khỏe của con người. Mặt khác, các nghiên cứu cũng cho thấy, để hạn chế những ảnh hưởng của BĐKH, cộng đồng đã tự tìm cách thích ứng thông qua những cách thức khác nhau tùy thuộc vào ảnh hưởng đến từng lĩnhvực. Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia chịu nhiều tổn thương nhất bởi BĐKH [3].

Do vậy, việc đánh giá tác động của BĐKH và tìm cách thích ứng phù hợp là vấn đề cần thiết được đặt ra trong các chiến lược phát triển cũng như vấn đề đặt ra cho các học giả trong và ngoài nước. Để có cái nhìn rõ hơn về vấn đề này, tổng quan nghiên cứu sẽ phân tích những đóng góp của các nghiên cứu đi trước dưới hai hướng nghiên cứu chính. Thứ nhất, ảnh hưởng của BĐKH đến lĩnh vực nuôi tôm vùng ven biển. Thứ hai, tìm hiểu hoạt động thích ứng của người dân trước những ảnh hưởng của BĐKH đối với lĩnh vực nuôi tôm ven biển.

Nghiên cứu về tác động của BĐKH đến lĩnh vực nuôi tôm Trên thế giới đã có những nghiên cứu đến ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến nuôi tôm. Nghiên cứu của NesarAhmed năm 2015 đã chỉ ra rằng việc tôm sú (Penaeus monodon) ở ven biển Bangladesh đã đi kèm với những lo ngại gần đây về biến đổi khí hậu. Khảo sát thực địa cho thấy các biến số khí hậu khác nhau bao gồm lũ lụt ven biển, lốc xoáy, nước biển dâng, độ mặn, hạn hán, lượng mưa và nhiệt độ bề mặt biển đã có những tác động tiêu cực đến nghề nuôi tôm cũng như điều kiện 5 kinh tế xã hội của các hộ nuôi. Cũng có nhiều bằng chứng cho thấy sự thay đổi của các biến khí hậu có tác động bất lợi đến hệ sinh thái của các trang trại nuôi tôm, và do đó, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tỷ lệ sống, tăng trưởng và sản lượng của tôm.

Điều này tác động tiêu cực đến sinh kế của các hộ nuôi tôm [31]. Một nghiên cứu khác cũng được thực hiện tại Bangladesh, chỉ ra tính bền vững của nuôi tôm nước lợ có tầm quan trọng hàng đầu đối với sự phát triển kinh tế xã hội của vùng duyên hải Tây Nam Bangladesh. Ở đây, nuôi tôm chủ yếu là truyền thống, dễ bị tổn thương hơn bởi biến đổi khí hậu. Sự thay đổi của biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng phần lớn đến sản lượng tôm do tần suất bệnh tôm ngày càng tăng, gây ra thiệt hại vật chất cho các trang trại và làm suy giảm chất lượng nước.

Người nuôi tôm có những thích ứng với những thay đổi đó bằng nhiều cách khác nhau, bao gồm tăng độ sâu ao, thay nước thủy triều, tạo bóng râm bằng cây thủy sinh, củng cố đê đất, quây lưới và rào quanh đê. Tuy nhiên, họ còn thiếu sự hiểu biết về các biện pháp thích ứng với các tác động của biến đổi khí hậu [29]. Nghiên cứu trường hợp tại bang Andhra Pradesh, Ấn Độ của M. Muralidhar và cộng sự (2020) đã đưa ra những thay đổi về nhiệt độ, lượng mưa, hạn hán và các hiện tượng khí hậu khắc nghiệt (lốc xoáy, bão, lũ lụt) có thể tác động tiêu cực đến nuôi trồng thủy sản.

Thay đổi sinh thái, ngập úng các vùng đất trũng và xâm nhập mặn vào các vùng nước ngọt là có khả năng gây ra sự thay đổi đáng kể của các cộng đồng và phá vỡ các hệ thống canh tác. Những người nuôi tôm quy mô nhỏ, các thành viên nghèo dễ bị tổn thương hơn bởi biến đổi khí hậu. Các nông dân quy mô nhỏ thường không có tổ chức và hầu hết nông dân không được tiếp cận với các đổi mới công nghệ và ứng dụng khoa học. Cần phải dự báo những tác động có thể xảy ra của biến đổi khí hậu đối với ngành nuôi tôm và xây dựng các chiến lược hỗ trợ nông dân và cộng đồng nông thôn thích ứng với những thay đổi sắp tới [44].

Tại Việt Nam cũng có một số nghiên cứu liên quan đến tác động của biến đổi khí hậu đến thủy sản nói chung và lĩnh vực nuôi tôm nói riêng. Nghiên cứu Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến nuôi tôm nước lợ tại Thanh Hóa của Cao Lệ Duyên năm 2015 cho thấy cộng đồng nuôi tôm chịu ảnh hưởng lớn nhất bởi bão và lũ lụt, tiếp đến là nhiệt động gia tăng và thay đổi lượng mưa. Sức khỏe của tôm, môi trường ao nuôi, cơ sở hạ tầng vùng nuôi và ao nuôi là những đối tượng bị ảnh hưởng lớn 6 nhất do biến đổi khí hậu. Các yếu tố BĐKH đều ảnh hưởng đến sản lượng tôm, đặc biệt là số cơn bão và những ngày nắng nóng trên 35 oC trong năm [6].

Nghiên cứu Đánh giá tác động của BĐKH đến hoạt động nuôi tôm tại xã Kim Hải, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình của Ngô Thị Chiến (2019) chỉ ra rằng bốn yếu tố tác động của BĐKH là sự thay đổi nhiệt độ, lượng mưa, tần suất bão lũ và nước biển dâng. Phần lớn người dân đều đồng ý rằng tác động của BĐKH đối với hoạt động nuôi tôm tại xã Kim Hải rất rõ ràng và cụ thể. Trong đó yếu tố nhiệt độ tăng và nước biển dâng ảnh hưởng lớn nhất đến nuôi tôm, sự thay đổi lượng mưa ảnh hưởng lớn nhất đến điều kiện kinh tế - xã hội của cộng đồng, sự thay đổi tần suất bão lũ ảnh hưởng lớn nhất đến nguồn lợi thủy sản. Trong khi đó, năng lực thích ứng của các hộ nuôi tôm thấp dẫn đến bị tổn thương cao với biến đổi khí hậu [4].

Nghiên cứu Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực nuôi tôm nước lợ tại xã Kim Trung, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình của Trương Văn Công đã đưa ra kết luận các hiện tượng nắng nóng kéo dài, rét đậm rét hại, mưa lớn, bão, lũ lụt đã gây ra nhiều tác động bất lợi đến các hoạt động nuôi tôm nước lợ theo các mức độ khác nhau thông qua việc ảnh hưởng đến năng suất, sự sinh trưởng phát triển và giảm sản lượng, trong đó nắng nóng kéo dài và rét đậm rét hại gây ra tác động và thiệt hại nhiều nhất. Nước biển dâng và tình trạng xâm nhập mặn cũng gây ra những tác động tiêu cực đến hoạt động nuôi tôm nước lợ, nhưng đồng thời cũng có những tích cực trong việc gia tăng diện tích nuôi tôm nước lợ [5]. Nghiên cứu của Quách Văn Ân, F. Murray và công sự về tác động của BĐKH đối với nuôi tôm ở Cà Mau, Việt Nam dưới góc nhìn của nông dân và chuyên gia.

Nghiên cứu chỉ ra tỉnh Cà Mau là một trong những tỉnh dễ tổn thương nhất ở Việt Nam trong lĩnh vực NTTS và nuôi tôm. Mực nước biển dâng và thủy triều cao đang gây ra những bất lợi lớn cho người nuôi tôm, cường độ mưa lớn bất thường, sự gia tăng biến động của nhiệt độ và mùa khô kéo dài hơn cũng đang ảnh hưởng xấu đến sản xuất tôm, nghiên cứu đã giúp cho chính quyền địa phương và người dân nuôi tôm ở Cà Mau cũng như cư dân đồng bằng sông Cửu Long hiểu rõ hơn về khí hậu thay đổi tác động đến sinh kế của người nuôi tôm và những gì họ có thể làm để giảm thiểu rủi ro [33]. 7 Nghiên cứu Đánh giá tác động của BĐKH và giải pháp ứng phó trong mô hình nuôi tôm sú quảng canh cải tiến tại ĐBSCL của tác giả Lê Thị Phương Mai và cs năm 2016 cho thấy, trên 92 % hộ nuôi tôm sú quảng canh cải tiến các tỉnh ĐBSCL gồm Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau đã nhận thức được sự thay đổi và tác động của thời tiết. Nhiệt độ cao hay mực nước triều thấp ảnh hưởng lớn đến tôm nuôi do thiếu nguồn nước ngọt làm độ mặn và độ kiềm gia tăng, nhiệt độ biến động lớn giữa ngày và đêm cũng ảnh hưởng đến sinh trưởng của tôm [10].

Nghiên cứu tác động của BĐKH đến sản lượng nuôi tôm tỉnh Cà Mau của Nguyễn Thanh Tùng (2019) đã chỉ ra rằng: Trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp, nuôi tôm bị tác động nhiều nhất do các thay đổi đột ngột về nhiệt độ và lượng mưa sẽ nhanh chóng làm thay đổi đột ngột môi trường ao nuôi (giảm nhiệt độ, độ mặn, pH, kiềm.) dẫn đến làm tôm sốc và chết hàng loạt, gây thiệt hại nặng nề cho người nuôi tôm. Kết quả ước lượng thông qua chuỗi số liệu theo thời gian 1995-2018 bước đầu cho thấy, nếu nhiệt độ trung bình tăng lên 1°C sẽ làm sản lượng tôm nuôi Cà Mau giảm 33,267%; nếu tổng lượng mưa tăng thêm 1% sẽ làm cho sản lượng tôm nuôi Cà Mau giảm 0,097%; nếu số ngày có giống tăng thêm 1 ngày sẽ làm cho sản lượng tôm nuôi Cà Mau giảm 7,439% [16]. Như vậy, các nghiên cứu trên đều đưa ra nhận định BĐKH có ảnh hưởng đến hoạt động nuôi tôm, trong đó sự thay đổi về nhiệt độ, lượng mưa và các hiện tượng khí hậu cực đoan như hạn hán, bão, lũ lụt, xâm nhập mặn,.đều có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của tôm, cơ sở hạ tầng nuôi tôm từ đó ảnh hưởng đến sinh kế của các hộ nuôi tôm. Đặc biệt là những hộ nuôi quy mô nhỏ thiếu kinh nghiệm, công nghệ,.

nên dễ bị tổn thương hơn bởi biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa chỉ ra mức độ ảnh hưởng của các yếu tố biến đổi khí hậu đến nuôi tôm tại các địa phương. Đây chính là khoảng trống mà nghiên cứu này cần lấp đầy.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ