Tổng quan nghiên cứu

Năm 2018 đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam khi đón tiếp khoảng 15,6 triệu lượt khách quốc tế và phục vụ trên 80 triệu lượt khách nội địa, mang lại tổng doanh thu 620 nghìn tỷ đồng và giúp Việt Nam vươn lên vị trí 67 trên 136 nền kinh tế về năng lực cạnh tranh du lịch theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF). Nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, tỉnh Bình Dương sở hữu nhiều tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, di tích lịch sử và làng nghề truyền thống lâu đời. Năm 2018, địa phương đã thu hút hơn 4,75 triệu lượt khách du lịch với tổng doanh thu đạt 1.360 tỷ đồng, tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 2,07% về lượng khách và 4,24% về doanh thu.

Mặc dù đạt được những tín hiệu khả quan, ngành du lịch Bình Dương vẫn đối mặt với nhiều rào cản tăng trưởng mang tính cơ cấu. Thống kê năm 2017 cho thấy trong tổng GRDP 248 nghìn tỷ đồng của toàn tỉnh, công nghiệp chiếm áp đảo với 63,8% (tương đương 152 nghìn tỷ đồng), trong khi dịch vụ lưu trú và ăn uống chỉ đạt 4.751 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng khiêm tốn chưa đầy 2% GRDP. Lượng khách quốc tế chỉ đạt 300.000 lượt vào năm 2018, phản ánh khả năng thu hút du khách có mức chi tiêu cao còn nhiều hạn chế. Nhằm giải quyết điểm nghẽn này, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản trị Kinh doanh của tác giả Phạm Thị Hồng Quế, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Viết Bằng tại Trường Đại học Thủ Dầu Một (năm 2019), đã tiến hành đánh giá thực trạng và xác định các nhân tố chi phối ý định quay trở lại của du khách giai đoạn 2014-2018, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao sức hấp dẫn của điểm đến đến năm 2030.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự giao thoa của các mô hình hành vi người tiêu dùng kinh điển trong lĩnh vực du lịch và quản trị:

  • Mô hình hành vi tiêu dùng trong du lịch của Mathieson và Wall (1982): Phác họa tiến trình ra quyết định qua 5 giai đoạn tuần tự, từ việc hình thành nhu cầu, thu thập thông tin, ra quyết định chuyến đi, chuẩn bị hành trình, đến đánh giá mức độ thỏa mãn sau chuyến đi.
  • Lý thuyết Hành động Hợp lý (TRA) của Fishbein và Ajzen (1975) cùng Thuyết Hành vi Dự định (TPB) của Ajzen (1991): Khẳng định ý định hành vi là tiền đề trực tiếp dẫn đến hành vi thực tế, chịu sự chi phối của thái độ đối với hành vi, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi.
  • Khung cấu thành hình ảnh điểm đến của Beerli và Martín (2004): Hệ thống hóa hình ảnh điểm đến thành 9 khía cạnh hữu hình và vô hình, tạo tiền đề để tác giả tinh chỉnh thành 7 nhóm nhân tố phù hợp với thực tiễn Bình Dương gồm cơ sở hạ tầng chung, cơ sở hạ tầng du lịch, yếu tố văn hóa - chính trị, môi trường xã hội và bầu không khí điểm đến.

Nghiên cứu vận dụng 5 khái niệm nền tảng: Điểm đến du lịch (Destination), Hình ảnh điểm đến (Destination Image), Kinh nghiệm du lịch (Travel Experience), Sự hài lòng của du khách (Tourist Satisfaction) và Ý định quay trở lại (Revisit Intention). Mô hình nghiên cứu đề xuất giả định rằng các yếu tố hình ảnh điểm đến tác động trực tiếp đến sự hài lòng, qua đó cùng với kinh nghiệm du lịch tác động trực tiếp đến ý định quay trở lại điểm đến của du khách.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp hai giai đoạn phương pháp luận chặt chẽ:

  • Nghiên cứu định tính: Tiến hành tham vấn chuyên gia, thảo luận nhóm và khảo sát thử nghiệm để điều chỉnh hệ thống 29 biến quan sát phù hợp với bối cảnh địa phương.
  • Nghiên cứu định lượng: Thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua bảng câu hỏi sử dụng thang đo Likert 5 mức độ (từ 1: Rất không đồng ý đến 5: Rất đồng ý). Theo quy tắc của Hair và cộng sự (1998), kích thước mẫu tối thiểu cần gấp 5 lần số biến quan sát (29 biến x 5 = 145 mẫu). Tác giả đã phát ra 400 phiếu khảo sát bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện phi xác suất và thu về 397 mẫu hợp lệ (đạt tỷ lệ phản hồi 99,25%) từ du khách tham quan tại các điểm đến tiêu biểu từ tháng 5 đến tháng 8 năm 2019. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Cục Thống kê và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương giai đoạn 2014-2018.

Quy trình phân tích dữ liệu được thực hiện trên phần mềm SPSS 20 và AMOS với các bước: Thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA) và mô hình hóa cấu trúc tuyến tính (SEM). Phương pháp SEM được lựa chọn nhờ ưu thế vượt trội trong việc kiểm định đồng thời các mối quan hệ đa biến phức tạp giữa các khái niệm tiềm ẩn và khắc phục triệt để sai số đo lường.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  • Kiểm định độ tin cậy thang đo: Tất cả 8 thang đo với 29 biến quan sát đều đạt chuẩn độ tin cậy cao, hệ số Cronbach's Alpha dao động từ 0,789 (Cơ sở hạ tầng du lịch) đến 0,862 (Cơ sở hạ tầng chung), tất cả các biến đều có tương quan biến - tổng vượt mức 0,701 (lớn hơn ngưỡng yêu cầu 0,30). Phân tích EFA cho thấy hệ số KMO đạt 0,876 và kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê (sig = 0,000), khẳng định tính thích hợp của dữ liệu.
  • Mức độ phù hợp của mô hình SEM: Kết quả phân tích CFA và SEM chứng minh mô hình tương thích tuyệt đối với dữ liệu thực tế thông qua các chỉ số: Cmin/df = 1,601 (nhỏ hơn 3,0), chỉ số TLI = 0,947, chỉ số CFI = 0,954 (lớn hơn 0,90) và chỉ số sai số RMSEA = 0,044 (thấp hơn ngưỡng an toàn 0,08).
  • Mối quan hệ giữa các nhân tố: Nghiên cứu khẳng định có 3 nhân tố hình ảnh điểm đến tác động tích cực có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) đến Sự hài lòng gồm: Môi trường xã hội, Cơ sở hạ tầng du lịch và Cơ sở hạ tầng chung. Riêng nhân tố Bầu không khí điểm đến không có tác động đáng kể đến sự hài lòng.
  • Tác động đến ý định quay trở lại: Cả hai nhân tố Sự hài lòng và Kinh nghiệm du lịch đều tác động tích cực trực tiếp đến Ý định quay trở lại của du khách với độ tin cậy 95%. Tốc độ tăng trưởng du khách trong quý I/2019 đạt 841.621 lượt khách (tăng 4,1% so với cùng kỳ) với doanh thu lữ hành 291,7 tỷ đồng (tăng 4,7%) là minh chứng sống động cho nhận định này.

Thảo luận kết quả

Môi trường xã hội và hạ tầng giao thông đô thị là trụ cột định hình sự hài lòng của du khách khi đến Bình Dương. Lợi thế vị trí tiếp giáp các trục lộ huyết mạch như Quốc lộ 13 và Quốc lộ 14 giúp du khách tiếp cận điểm đến thuận tiện. Thái độ thân thiện, hiếu khách của người dân địa phương và tính chuyên nghiệp của đội ngũ phục vụ đã bù đắp cho những hạn chế về tài nguyên tự nhiên.

So sánh với các nghiên cứu trước đây của Mai Ngọc Khương và Phạm Anh Tuyên (2015) tại Thành phố Hồ Chí Minh và Lê Thanh Tùng cùng cộng sự (2018) tại Phú Quốc, kết quả nghiên cứu tái khẳng định vai trò trung gian then chốt của sự hài lòng trong việc thúc đẩy lòng trung thành của du khách. Đáng chú ý, thái độ của du khách tại Bình Dương không bị tác động tiêu cực bởi các tệ nạn chặt chém hay bất ổn trật tự an ninh, cho thấy hiệu quả quản lý điểm đến an toàn của địa phương.

Về mặt trực quan hóa, toàn bộ mối liên hệ nhân quả này có thể được trình bày thông qua biểu đồ đường phân tích xu hướng tăng trưởng doanh thu giai đoạn 2014-2018 kết hợp bảng ma trận trọng số hồi quy chuẩn hóa (Standardized Path Coefficients) để các cơ quan quản lý dễ dàng nhận diện trọng tâm điều phối nguồn lực.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Hiện đại hóa hệ thống hạ tầng du lịch và công nghệ thông tin: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương cần chủ trì triển khai cổng thông tin du lịch thông minh, tích hợp bản đồ số hóa 100% các khu di tích, danh thắng và làng nghề thủ công hơn 300 năm tuổi (gốm sứ Lái Thiêu, sơn mài Tương Bình Hiệp) trong giai đoạn 2020-2022, nhằm nâng tỷ lệ tiếp cận thông tin trực tuyến của du khách lên trên 80%.
  • Đa dạng hóa và liên kết chuỗi sản phẩm du lịch đặc thù: Các doanh nghiệp lữ hành và ban quản lý khu du lịch (Lạc Cảnh Đại Nam Văn Hiến, Hồ Dầu Tiếng, Núi Cậu) cần chủ động liên kết xây dựng các tour du lịch sinh thái miệt vườn kết hợp nghỉ dưỡng cuối tuần, phấn đấu nâng thời gian lưu trú bình quân của du khách từ 1,2 ngày lên 2,0 ngày vào năm 2025.
  • Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và chuẩn hóa cơ sở lưu trú: Hiệp hội Du lịch Bình Dương phối hợp cùng các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tổ chức các khóa bồi dưỡng nghiệp vụ theo Tiêu chuẩn nghề du lịch Việt Nam (VTOS) và Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về nghề du lịch (MRA-TP) cho hơn 80% nhân viên tại 550 cơ sở lưu trú và 40 khách sạn được xếp hạng sao từ năm 2020 đến 2025.
  • Đẩy mạnh quảng bá thương hiệu điểm đến và xúc tiến thị trường: Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương chỉ đạo Trung tâm Xúc tiến Du lịch tăng ngân sách quảng bá xúc tiến 20% mỗi năm, tham gia các hội chợ du lịch quốc tế thường niên nhằm hướng tới mục tiêu đón 5,5 triệu lượt khách nội địa và 500.000 lượt khách quốc tế vào năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, UBND tỉnh Bình Dương và các tỉnh Đông Nam Bộ): Luận văn cung cấp luận cứ khoa học và số liệu thực chứng giai đoạn 2014-2018 giúp định hình chính sách quy hoạch không gian du lịch, điều chỉnh cơ chế thu hút đầu tư hạ tầng nhằm nâng tỷ trọng đóng góp của du lịch trong cơ cấu GRDP vượt mức 2% hiện nay.
  • Doanh nghiệp lữ hành và điều hành điểm đến (hơn 30 đơn vị lữ hành quốc tế và các khu du lịch trên địa bàn): Doanh nghiệp có thể ứng dụng trực tiếp mô hình SEM để đánh giá trải nghiệm khách hàng, tái cấu trúc các tour du lịch sinh thái - làng nghề, giúp tối ưu hóa chi phí tiếp thị và tăng tỷ lệ khách quay trở lại từ 15% đến 25%.
  • Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lưu trú và ẩm thực (hơn 550 khách sạn, nhà nghỉ với 10.500 phòng): Cung cấp các tiêu chuẩn đánh giá sự hài lòng về thái độ phục vụ và tiện ích hạ tầng, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cấp chất lượng dịch vụ phòng nghỉ và ẩm thực đặc sản địa phương (bánh bèo Mỹ Liên, gỏi gà măng cụt).
  • Giảng viên, học viên sau đại học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản trị Kinh doanh, Du lịch học: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu định lượng nâng cao (Cronbach's Alpha, EFA, CFA, SEM) và cách thức vận dụng mở rộng thuyết TPB trong phân tích hành vi người tiêu dùng.

Câu hỏi thường gặp

  • Cỡ mẫu 397 du khách có đảm bảo tính đại diện cho toàn bộ khách du lịch đến Bình Dương? Hoàn toàn đảm bảo. Căn cứ theo nguyên tắc tối thiểu 5 mẫu cho mỗi biến quan sát của Hair và cộng sự (1998), với 29 biến quan sát thì cỡ mẫu tối thiểu là 145. Cỡ mẫu 397 phiếu hợp lệ trên 400 phiếu phát ra có hệ số KMO đạt 0,876 và chỉ số RMSEA = 0,044, đáp ứng trọn vẹn độ tin cậy thống kê cho tổng thể khách du lịch.

  • Tại sao nhân tố "Bầu không khí điểm đến" không có tác động đáng kể đến sự hài lòng? Kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM chỉ ra mối quan hệ này không đạt mức ý nghĩa thống kê 5%. Điều này xuất phát từ thực tế du khách đến Bình Dương chủ yếu trải nghiệm ngắn ngày hoặc tham gia du lịch công vụ, tâm linh, nơi hạ tầng giao thông và môi trường xã hội đóng vai trò định hình nhận thức rõ nét hơn.

  • Những lý thuyết nền tảng nào được tích hợp trong mô hình nghiên cứu của luận văn? Tác giả đã kết hợp ba khung lý thuyết vững chắc gồm: Mô hình hành vi tiêu dùng du lịch 5 giai đoạn của Mathieson và Wall (1982), Thuyết Hành vi Dự định (TPB) của Ajzen (1991) giải thích vai trò của thái độ và chuẩn chủ quan, cùng Mô hình cấu thành hình ảnh điểm đến 9 khía cạnh của Beerli và Martín (2004).

  • Tình hình an ninh trật tự và giá cả tại các điểm đến Bình Dương được du khách đánh giá như thế nào? Khảo sát thực tế trên 397 du khách cho thấy thái độ của du khách không bị ảnh hưởng tiêu cực bởi tệ nạn chặt chém giá cả hay bất ổn an ninh. Thang đo môi trường văn hóa - chính trị đạt độ tin cậy Cronbach's Alpha 0,840, phản ánh sự an tâm của du khách khi tham quan các lễ hội truyền thống như Chùa Bà Thiên Hậu.

  • Điểm nghẽn lớn nhất cần khắc phục của du lịch Bình Dương theo số liệu nghiên cứu là gì? Số liệu giai đoạn 2014-2018 chỉ ra ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống mới chỉ đạt 4.751 tỷ đồng, chiếm gần 2% GRDP toàn tỉnh (248 nghìn tỷ đồng năm 2017). Lượng khách quốc tế chỉ dừng ở mức 300.000 lượt năm 2018 do hệ thống sản phẩm du lịch còn phân tán, thiếu chuỗi dịch vụ liên hoàn cao cấp.

Kết luận

  • Khảo sát thực chứng thành công 397 du khách với 29 biến quan sát, đạt các chỉ số tương thích mô hình tối ưu (Cmin/df = 1,601, CFI = 0,954, RMSEA = 0,044).
  • Xác định 3 nhân tố thuộc hình ảnh điểm đến tác động tích cực trực tiếp đến sự hài lòng gồm môi trường xã hội, cơ sở hạ tầng du lịch và cơ sở hạ tầng chung.
  • Khẳng định sự hài lòng và kinh nghiệm du lịch là hai tiền tố quyết định ý định quay trở lại của du khách với độ tin cậy 95%.
  • Phân tích toàn cảnh số liệu du lịch Bình Dương giai đoạn 2014-2018, chỉ rõ điểm nghẽn doanh thu lưu trú mới chỉ chiếm gần 2% GRDP.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá về hạ tầng thông minh, sản phẩm sinh thái, đào tạo nhân lực và xúc tiến điểm đến định hướng giai đoạn 2020-2030.

Công trình luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Thị Hồng Quế đã đóng góp quan trọng cả về mặt lý luận quản trị điểm đến và thực tiễn phát triển kinh tế địa phương. Các nhà quản lý điểm đến, doanh nghiệp lữ hành và cơ sở lưu trú hãy ứng dụng ngay mô hình này vào lộ trình hành động giai đoạn 2020-2025 nhằm tối ưu hóa trải nghiệm khách hàng và thúc đẩy tăng trưởng du lịch Bình Dương bền vững!