CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU DỊCH VỤ VIỄN THÔNG 1. Cơ sở lý luận về viễn thông và dịch vụ viễn thông 1. Cơ sở lý luận về viễn thông 1. Khái niệm viễn thông Thuật ngữ “Viễn thông” được Edourard Estaunie đưa ra lần đầu tiên vào năm 1904.
Trong tiếng anh, viễn thông là Telecommunication được ghép bởi 2 từ tele (từ xa) và communication (liên lạc), như vậy có thể hiểu một cách khái quát: mục đích của viễn thông là giữ liên lạc từ nơi này đến nơi khác. Bản thân viễn thông là một nhánh con của truyền thông bởi nếu truyền thông là việc truyền thông tin từ nơi này đến nơi khác thì nó bao gồm truyền thông tin bằng cách cơ học (Bưu chính) và truyền thông tin bằng tín hiệu (Viễn thông). Trong bảng phân ngành của mình, Tổ chức thương mại thế giới (WTO) định nghĩa: “Viễn thông là tất cả sự chuyển tải, truyền dẫn hoặc thu phát các ký hiệu, tín hiệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh, giọng nói, dữ liệu thông qua các dây dẫn, sóng vô tuyến, cáp quang, các phương tiện vật lý hoặc các hệ thống điện tử khác” Còn theo điều 3.1 Luật Viễn thông Việt Nam 2009, “Viễn thông là việc gửi, truyền, nhận và xử lý ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng thông tin khác bằng đường cáp, sóng vô tuyến điện, phương tiện quang học và phương tiện điện từ khác”. Ngày 7/5/1994, theo quyết định số 91/TTg của Thủ tướng chính phủ, Tổng công ty Bưu chính – viễn thông chuyển sang thuộc quyền sở hữu của Nhà nước và ngày nay trở thành tập đoàn viễn thông VNPT.
Năm 2003 đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ của ngành viễn thông Việt Nam khi có sự chuyển đổi từ ngành kinh doanh độc quyền sang cạnh tranh tất cả các loại hình dịch vụ. Theo đó, ranh giới giữa bưu chính và viễn thông ngày càng được phân định rạch ròi và viễn thông chính thức trở thành một trong những ngành kinh tế trọng điểm của quốc gia, hoạt động dưới sự chỉ đạo của Bộ Công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam. Vai trò của ngành viễn thông Sở dĩ gọi viễn thông là một ngành đặc biệt vì viễn thông vừa là một ngành kinh tế vừa là ngành kĩ thuật và dịch vụ. Các doanh nghiệp và Nhà nước có thể kinh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 doanh các dịch vụ, thiết bị viễn thông nhằm tạo ra nguồn thu góp phần vào tăng trưởng kinh tế quốc dân.
Lợi nhuận mà ngành này tạo ra cũng giống như kết quả từ hoạt động kinh doanh một loại hàng hóa. Tuy nhiên không mang tính chất mua đứt- bán đoạn như mua-bán hàng hóa mà sản phẩm của ngành viễn thông chính là sự truyền tải, truyền dẫn thông tin, kí hiệu còn liên đới đến nhiều ngành nghề khác. Cơ sở hạ tầng của ngành viễn thông cần chi phí đầu vào rất lớn, thời gian thu hồi vốn lâu và cần đầu tư tối đa chất xám của con người. Viễn thông tiêu tốn nhiều nguồn lực của nền kinh tế nhưng mỗi quốc gia bắt buộc phải xây dựng và phát triển ngành này vì những vai trò to lớn của nó đối với sự phát triển nhân loại trong dài hạn.
Cụ thể như sau: a) Viễn thông là ngành thuộc kết cấu hạ tầng của nền kinh tế Tại thời điểm trước Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, viễn thông chỉ được xem là ngành phục vụ. Ngày nay, quan điểm về vai trò của ngành viễn thông đã thay đổi, vai trò phục vụ đã được thay thế bằng vai trò của ngành kết cấu hạ tầng nền kinh tế, thể hiện ở việc viễn thông tạo điều kiện truyền tải thông tin phục vụ sản xuất và thúc đẩy các hoạt động kinh doanh, viễn thông đẩy nhanh tốc độ nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, thay đổi cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý sản xuất. Nhìn chung, tầm quan trọng của viễn thông thể hiện ở tầm quan trọng của mức độ cập nhật thông tin. Thông tin giống như một miếng bánh mà người nào đến trước sẽ được ăn trước.
Trong tài chính, thông tin chính là kho báu, phải mua mới có được và có được thông tin chính xác thì mỗi quyết định đầu tư có thể mang lại lợi nhuận gấp hàng chục lần. Trong cuộc sống hàng ngày, thông tin về dự báo thời tiết đã giúp cho con người chống chọi bản lĩnh hơn và phòng chống được tai họa, thiên tai không mong muốn. Thông tin cũng là sự gắn kết Việt Nam với thế giới, thực hiện các hoạt động đầu tư kinh doanh quốc tế cũng như giao lưu văn hóa, văn nghệ. Như vậy có thể thấy, vai trò của viễn thông thể hiện ở mọi khâu trong nền kinh tế, tác động len lỏi đến từng ngành và thực tế là để một quốc gia phát triển thì bắt buộc phải phát triển viễn thông.
b) Viễn thông là một ngành kinh tế và góp phần phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Sở dĩ gọi viễn thông là một ngành kinh tế vì ngoài vai trò phục vụ xã hội, viễn thông còn là ngành kinh doanh đem lại lợi nhuận cao, đóng góp vào GDP chung của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 cả nước. Năm 2013, doanh thu của các dịch vụ viễn thông đạt 7.373,99 triệu đô la Mỹ, đưa viễn thông trở thành một trong những ngành dịch vụ có tốc độ tăng trưởng cao nhất. Ngoài ra sự phát triển của viễn thông đã và đang thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác, ví dụ như sự ra đời các ngành công nghiệp dịch vụ thông tin có hàm lượng trí tuệ cao, có giá trị gia tăng cao như: tư vấn, thiết kế, bảo trì, bảo dưỡng các hệ thống thông tin, đào tạo từ xa, y tế từ xa, thương mại điện tử, giao dịch tài chính qua mạng máy tính.
Từ kinh nghiệm của các nước phát triển cho thấy, trong tương lai, những ngành này sẽ trở thành những ngành công nghiệp hàng đầu ở Việt Nam, tạo điều kiện công ăn việc làm cho hàng triệu lao động có trình độ, nhờ vậy, tỷ trọng đóng góp vào GDP của khối ngành dịch vụ sẽ tăng và thúc đẩy việc cải cách các ngành công nghiệp khác. Mặt khác, viễn thông hiện đại có tác động mạnh mẽ đến quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất và cơ cấu kinh tế xã hội, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong những năm vừa qua, cùng với tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ của viễn thông, cơ cấu nền kinh tế Việt Nam đang có xu hướng dịch chuyển theo hướng công nghiệp hóa, thể hiện ở số lao động làm việc trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ không ngừng tăng lên. Năm 2013; 32% số lao động Việt Nam làm việc trong lĩnh vực dịch vụ; 21,2% làm việc trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng; còn lại 46,8% làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản.
Sự chuyển dịch tích cực này đưa nền kinh tế Việt Nam tiến gần đến nền kinh tế thị trường và trong tương lai là nền kinh tế tri thức. Bên cạnh những giá trị kinh tế, viễn thông phát triển sẽ đưa các giá trị văn hoá tinh thần đến nông thôn, miền núi, hải đảo, nâng cao mức sống nông dân, nông thôn. Viễn thông là kênh liên lạc chính giữa chính phủ và nhân dân khắp các vùng miền, nâng cao tinh thần đoàn kết dân tộc và củng cố bản sắc văn hóa đã có từ ngàn đời nay. c) Viễn thông góp phần bảo vệ an ninh, chính trị quốc gia Nhiệm vụ của ngành viễn thông là truyền tải tín hiệu, thông tin trong đó bao gồm cả các thông tin về an ninh, quốc phòng, đối nội, đối ngoại của một quốc gia.
Trong nghị định số: 25/2011/NĐ-CP “Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật viễn thông” ban hành bởi chính phủ Việt Nam ngày 06/04/2011 có quy định rõ “Công trình viễn thông quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 công trình viễn thông có tầm quan trọng đặc biệt đối với hoạt động của toàn bộ mạng viễn thông quốc gia và ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng của đất nước, bao gồm: - Công trình hệ thống truyền dẫn viễn thông quốc tế, đường dài liên tỉnh; - Công trình hệ thống quản lý, điều khiển, định tuyến, chuyển mạch viễn thông quốc tế, đường dài liên tỉnh và khu vực; - Công trình hệ thống truyền dẫn, phát sóng tín hiệu phát thanh, truyền hình toàn quốc, khu vực và tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương” Có thể thấy các công trình quy định ở trên đều thuộc cơ sở hạ tầng của ngành viễn thông. Việc phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông có ảnh hưởng to lớn đến sự bảo mật thông tin, tin tức nội bộ; nhất là khi những thông tin đó liên quan đến an ninh quốc gia, chủ quyền đất nước. Đặc biệt, khi Việt Nam ngày càng tham gia hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới, đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu dịch vụ và thiết bị viễn thông, cùng với việc xây dựng, lắp đặt các công trình hệ thống truyền dẫn trên nước bạn thì việc đảm bảo an ninh quốc phòng từ ngành viễn thông là tối quan trọng và bức thiết. Cơ sở lý luận về dịch vụ viễn thông 1.
Khái niệm Theo Pháp lệnh bưu chính viễn thông ban hành bởi Quốc hội Việt Nam 2002, dịch vụ viễn thông là dịch vụ truyền kí hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh hoặc các dạng khác của thông tin giữa các điểm kết nối thông qua mạng viễn thông.7 Luật Viễn thông Việt Nam 2009, “Dịch vụ viễn thông là dịch vụ gửi, truyền, nhận và xử lý thông tin giữa hai hoặc một nhóm người sử dụng dịch vụ viễn thông, bao gồm dịch vụ cơ bản và dịch vụ giá trị gia tăng”. Trong đó: - Dịch vụ viễn thông cơ bản là: dịch vụ truyền đưa thông tin tức thời qua mạng viễn thông (bao gồm cả mạng Internet) mà không làm thay đổi loại hình và nội dung thông tin. - Dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng là: dịch vụ làm tăng thêm giá trị thông tin của người sử dụng dịch vụ bằng cách hoàn thiện loại hình, nội dung thông tin hoặc cung cấp khả năng lưu trữ, khôi phục thông tin đó. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.