Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu dịch vụ viễn thông của Việt Nam" do sinh viên Trần Vũ Diệu Linh (Lớp Anh 4 – Kinh tế, Khóa K50, chuyên ngành Thương mại quốc tế, Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội) thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Trần Bích Ngọc vào tháng 05 năm 2015.

Về bối cảnh thực tiễn, tính đến thời điểm tác giả triển khai nghiên cứu, Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được hơn 6 năm và đang tích cực thực thi các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường thương mại dịch vụ. Theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ năm 2011 về "Phê duyệt chiến lược tổng thể phát triển khu vực dịch vụ của Việt Nam đến năm 2020", viễn thông được xác định là nhiệm vụ tiên quyết hàng đầu trong giai đoạn 2015–2020. Trong nước, ngành viễn thông ghi nhận tốc độ tăng trưởng trung bình 24%/năm, đưa Việt Nam trở thành quốc gia có tốc độ tăng trưởng viễn thông đứng thứ hai tại khu vực châu Á. Sau khi thành công xóa bỏ cơ chế kinh doanh độc quyền vào năm 2003, thị trường nội địa đã đạt mức phổ cập điện thoại di động trên 100% và tỷ lệ người dùng Internet đạt 37%. Tuy nhiên, thị trường trong nước bắt đầu có dấu hiệu bão hòa ở mảng dịch vụ cơ bản, trong khi năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam trên thị trường quốc tế còn nhiều hạn chế, đòi hỏi phải tìm kiếm động lực tăng trưởng mới thông qua việc mở rộng hoạt động xuất khẩu dịch vụ viễn thông.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là đề xuất hệ thống giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu dịch vụ viễn thông của Việt Nam, dựa trên tình hình cung ứng dịch vụ viễn thông trong nước và các xu hướng công nghệ viễn thông trên thế giới.

Ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số theo văn bản bao gồm:

  1. Phân tích thực trạng của hoạt động cung cấp dịch vụ viễn thông trong nước và hoạt động xuất khẩu dịch vụ viễn thông thông qua tình hình kinh doanh của một số doanh nghiệp tiêu biểu.
  2. Phân tích năng lực cạnh tranh xuất khẩu của ngành viễn thông Việt Nam.
  3. Đề ra phương hướng và các giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu dịch vụ viễn thông của Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là vấn đề xuất khẩu dịch vụ viễn thông của Việt Nam, tập trung vào hoạt động sản xuất và kinh doanh xuất khẩu của các doanh nghiệp tiêu biểu như Tổng công ty Viettel Global (thuộc Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel), Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT), Công ty Công nghệ MobiFone Toàn cầu (MobiFone Global) và Vinaphone. Phạm vi thời gian nghiên cứu kéo dài từ thời điểm ngành viễn thông Việt Nam xóa bỏ cơ chế độc quyền (năm 2003) đến năm 2014, tập trung khai thác chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2009–2014 và xem xét các mục tiêu, dự báo phát triển đến năm 2019–2020. Về không gian, nghiên cứu bao quát thị trường nội địa Việt Nam và các thị trường nước ngoài mà doanh nghiệp Việt Nam đã tiến hành cung cấp dịch vụ hoặc thiết lập hiện diện thương mại (Campuchia, Lào, Haiti, Mozambique, Đông Timor, Cameroon, Burundi, Peru, v.v.).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các chuẩn mực pháp lý và kinh tế quốc tế:

  • Khái niệm và phân loại viễn thông: Dẫn chiếu thuật ngữ do Edouard Estaunié đưa ra năm 1904; định nghĩa viễn thông của WTO; Điều 3.1 Luật Viễn thông Việt Nam năm 2009; Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông năm 2002; Điều 9 Nghị định số 25/2011/NĐ-CP ngày 06/04/2011 của Chính phủ; và Thông tư phân loại dịch vụ viễn thông số 05/2012/TT-BTTTT ngày 18/05/2012 của Bộ Thông tin và Truyền thông. Theo đó, dịch vụ viễn thông được chuẩn hóa thành ba nhóm: dịch vụ cơ bản, dịch vụ giá trị gia tăng và dịch vụ cộng thêm; đồng thời được phân định theo công nghệ truyền dẫn (cố định mặt đất, cố định vệ tinh, di động mặt đất, di động vệ tinh, di động hàng hải, di động hàng không), phương thức thanh toán (trả trước, trả sau) và phạm vi liên lạc (nội mạng, liên mạng).
  • Khung lý thuyết xuất khẩu dịch vụ: Căn cứ Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS) của WTO xác định bốn phương thức cung ứng dịch vụ quốc tế: Cung cấp dịch vụ qua biên giới (Phương thức 1), Tiêu dùng ngoài lãnh thổ (Phương thức 2), Hiện diện thương mại (Phương thức 3), và Hiện diện của thể nhân (Phương thức 4). Tác giả xác định hoạt động xuất khẩu viễn thông của Việt Nam diễn ra chủ yếu ở ba phương thức đầu, trong đó phương thức hiện diện thương mại giữ vai trò nòng cốt cho mục tiêu mở rộng dài hạn.
  • Các mô hình kinh tế ứng dụng: Mô hình đàn nhạn bay của nhà kinh tế học người Nhật Bản Kaname Akamatsu (1930/1962) để định vị thị trường nội địa như con nhạn đầu đàn cung ứng vốn, công nghệ và nhân lực cho các thị trường mở rộng phía sau; Mô hình kim cương về lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter nhằm mổ xẻ các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh xuất khẩu ngành viễn thông.
  • Khung cam kết mở cửa thị trường: Phân tích cam kết của Việt Nam trong Hiệp định khung ASEAN về thương mại dịch vụ (AFAS), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA năm 2000, hiệu lực từ tháng 12/2001), và Biểu cam kết gia nhập WTO đối với các nhà cung cấp có hạ tầng mạng, không có hạ tầng mạng, và không có hiện diện thương mại tại Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng gồm phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, diễn giải, quy nạp và thống kê mô tả. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Sách trắng Công nghệ Thông tin và Truyền thông Việt Nam năm 2014 của Bộ Thông tin và Truyền thông, số liệu từ Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU), Báo cáo Cisco VNI Mobile (2015), cơ sở dữ liệu Trademap Database (2015), Tổng cục Thống kê, Báo cáo Công nghệ thông tin của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF 2014), khảo sát dịch vụ 3G của Báo Bưu điện Việt Nam phối hợp với Công ty Nielsen (2013), và báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của Viettel Global, VNPT, MobiFone Global, Vinaphone.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Một số vấn đề lý luận chung về xuất khẩu dịch vụ viễn thông

Chương I tập trung làm rõ tính chất kinh tế - kỹ thuật đặc thù của ngành viễn thông. Tác giả chỉ ra rằng viễn thông vừa là ngành kỹ thuật - dịch vụ, vừa là kết cấu hạ tầng then chốt của nền kinh tế. Theo Quyết định số 91/TTg ngày 07/05/1994 của Thủ tướng Chính phủ, Tổng công ty Bưu chính – Viễn thông chuyển sang sở hữu Nhà nước; đến năm 2003, ngành viễn thông chính thức xóa bỏ độc quyền, mở rộng cạnh tranh. Năm 2013, doanh thu dịch vụ viễn thông Việt Nam đạt 7.373,99 triệu USD. Sự phát triển viễn thông thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động: năm 2013, khu vực dịch vụ chiếm 32% lao động cả nước, công nghiệp - xây dựng chiếm 21,2%, và nông - lâm - thủy sản giảm còn 46,8%. Đồng thời, viễn thông đóng vai trò cốt lõi trong bảo vệ an ninh, chính trị quốc gia thông qua các công trình viễn thông quan trọng được quy định tại Nghị định 25/2011/NĐ-CP (hệ thống truyền dẫn, chuyển mạch, phát sóng quốc tế và liên tỉnh).

Tác giả phân tích các yếu tố toàn cầu tác động đến xuất khẩu dịch vụ viễn thông, trong đó nhấn mạnh nhu cầu bùng nổ dữ liệu di động. Theo dự báo của Cisco VNI Mobile (2015), lưu lượng dữ liệu di động hàng tháng của toàn cầu tăng từ 2,5 Exabytes (năm 2014) lên 24,3 Exabytes (vào năm 2019), tức gấp hơn 9 lần. Cơ cấu công nghệ dịch vụ di động dịch chuyển mạnh mẽ: đến năm 2019, mạng 4G dự kiến chiếm tới 68% tổng lưu lượng toàn cầu, trong khi mạng 2G–2.5G chỉ còn chiếm 2%. Về kinh nghiệm quốc tế, khóa luận khảo sát trường hợp của Hoa Kỳ giai đoạn 2009–2013: xuất khẩu dịch vụ tại Hoa Kỳ luôn chiếm xấp xỉ 30% tổng kim ngạch xuất khẩu và ngành dịch vụ tạo việc làm cho 80% dân số, cho thấy tiềm năng phát triển dịch vụ là đòn bẩy kinh tế rất lớn.

Về cam kết mở cửa thị trường, tác giả tổng hợp mức độ hội nhập của Việt Nam qua các văn bản quốc tế:

  • Trong ASEAN (AFAS): Cam kết mở cửa không hạn chế với phương thức 1, 2 và 3; riêng phương thức hiện diện thương mại chỉ cho phép cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) với doanh nghiệp Việt Nam, không cho phép liên doanh hay thành lập pháp nhân mới.
  • Trong APEC: Tham gia từ năm 1998, đến năm 2002 Việt Nam cam kết tiến tới mở cửa hoàn toàn viễn thông vào năm 2020 trên nguyên tắc tự nguyện.
  • Trong BTA Việt Nam - Hoa Kỳ: Mở cửa không hạn chế với phương thức tiêu dùng ngoài lãnh thổ. Sau 2 năm kể từ ngày ký (đối với dịch vụ Internet là 3 năm), doanh nghiệp Hoa Kỳ được liên doanh với đối tác Việt Nam với tỷ lệ góp vốn không quá 40% cho dịch vụ cơ bản và không quá 50% cho dịch vụ giá trị gia tăng.
  • Trong WTO (GATS): Phân loại rành mạch theo điều kiện hạ tầng kỹ thuật của nhà cung cấp nước ngoài.
Nhóm nhà cung cấp nước ngoài Loại hình dịch vụ cam kết Hình thức đầu tư và trần góp vốn tối đa
Có hạ tầng mạng Dịch vụ viễn thông cơ bản Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) hoặc liên doanh; vốn nước ngoài không vượt quá 49% vốn pháp định.
Dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng BCC hoặc liên doanh; tỷ lệ vốn góp của phía nước ngoài không vượt quá 50%.
Không có hạ tầng mạng Dịch vụ cơ bản và giá trị gia tăng BCC hoặc liên doanh; trần vốn góp ban đầu tối đa 51% (từ ngày 11/01/2010 được tự do chọn đối tác và nâng trần lên 65%).
Dịch vụ mạng riêng ảo (VPN) Tự do chọn đối tác liên doanh ngay sau khi gia nhập WTO; vốn nước ngoài tối đa lên đến 70%.
Không có hiện diện thương mại Cung cấp dịch vụ qua biên giới Dịch vụ hữu tuyến/di động phải ký thỏa thuận thương mại với pháp nhân được cấp phép tại Việt Nam; dịch vụ vệ tinh được mở rộng cung cấp cho công ty đa quốc gia sau 3 năm gia nhập.

Chương 2: Thực trạng hoạt động xuất khẩu dịch vụ viễn thông của Việt Nam

Chương 2 đánh giá toàn diện hạ tầng viễn thông trong nước làm bệ đỡ cho xuất khẩu, khảo sát thực tiễn triển khai qua 3 phương thức, và đo lường kim ngạch xuất khẩu.

Về cơ sở viễn thông trong nước:

  • Mật độ di động: Doanh thu di động chiếm 69% tổng doanh thu viễn thông năm 2013 (gấp 11 lần dịch vụ cố định). Giai đoạn 2009–2013, số thuê bao di động tăng từ 98.980 nghìn lên 123 triệu thuê bao; Viettel chiếm thị phần lớn nhất với 43,48%. Theo Báo cáo của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (2014), năm 2012 Việt Nam đứng thứ 23 thế giới về mật độ điện thoại di động và đứng thứ 2 khu vực Đông Nam Á (sau Singapore với 152,1 máy/100 dân).
  • Mật độ Internet: Tỷ lệ phổ cập Internet tăng từ 26,55% (năm 2009) lên 37% (năm 2013), tương đương 33.166 nghìn người sử dụng. Năm 2013, khoảng 60% người dùng Internet sử dụng băng thông rộng.
  • Năng lực công nghệ: Cơ cấu công nghệ di động chuyển dịch từ 2G sang 3G (chiếm 22% số thuê bao vào năm 2014) và dự kiến thử nghiệm 4G từ tháng 6/2015. Việt Nam đã phóng thành công hai vệ tinh địa tĩnh: VINASAT-1 (ngày 19/04/2008, 20 bộ phát đáp: 8 băng C, 12 băng Ku) và VINASAT-2 (ngày 16/05/2012, 30 bộ phát đáp 36 MHz, dung lượng 13.000 kênh thoại/Internet hoặc 150 kênh truyền hình), đưa Việt Nam trở thành nước thứ 93 trên thế giới và thứ 6 trong ASEAN có vệ tinh riêng trên quỹ đạo.
  • Những điểm hạn chế: Theo khảo sát của Báo Bưu điện Việt Nam và Nielsen năm 2013, mức độ hài lòng về tốc độ đường truyền 3G của người dùng chỉ đạt 55% (giảm từ 64% năm 2011), trong khi có 26% không hài lòng và 19% rất không hài lòng; tỷ lệ cam kết dùng lâu dài giảm từ 71% xuống 52%, tỷ lệ rời mạng tăng từ 4% lên 6%. Tốc độ Internet của Việt Nam trong quý IV/2014 ở mức rất thấp trong khu vực.
Quốc gia / Vùng lãnh thổ Tốc độ truy cập Internet trung bình quý IV/2014 (Mbps)
Hàn Quốc 22,2
Hồng Kông 16,8
Nhật Bản 15,2
Singapore 11,7
Đài Loan 10,6
Thái Lan 7,1
Malaysia 4,1
Trung Quốc 3,4
Việt Nam 2,7
Philippines 2,7
Ấn Độ 2,0
Indonesia 1,9

Về thực tiễn 3 phương thức xuất khẩu dịch vụ viễn thông:

  1. Phương thức cung ứng qua biên giới: Thể hiện qua dịch vụ chuyển vùng quốc tế (Data roaming) và bán dung lượng vệ tinh. Vinaphone áp dụng mức cước roaming quốc tế cho thuê bao di chuyển sang Anh, Mỹ, Canada gọi về Việt Nam là 17.000 đồng/phút, tin nhắn 8.000 đồng/bản tin, cước dữ liệu là 3.000 đồng/10kB. Về vệ tinh, sau 6 tháng khai thác thương mại, cuối năm 2008 VINASAT-1 đã bán được 30% công suất cho các đối tác truyền hình và viễn thông (VTV, VTC, HTV, VOV, MODEC, THAICOM); VNPT ký hợp đồng cung cấp dịch vụ VSAT cho WebsatMedia Satellite tại Indonesia và Singapore.
  2. Phương thức tiêu dùng ngoài lãnh thổ: Cung cấp dịch vụ hạ tầng mạng và viễn thông cho cá nhân, khách du lịch và các công ty đa quốc gia hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam. Vinaphone mở rộng mạng lưới roaming với các nhà mạng tại 146 quốc gia, chia thành 5 vùng tính cước dịch vụ trả sau.
  3. Phương thức hiện diện thương mại: Đây là phương thức năng động nhất với hai đầu tàu:
  • VNPT / MobiFone Global: Năm 2008, VNPT Global lập 5 công ty con tại Hoa Kỳ, Hồng Kông, Singapore, Cộng hòa Séc và 3 điểm POP kết nối tuyến cáp quang biển AAG. Công ty CP Cáp và Vật liệu Viễn thông (Sacom - thành viên VNPT) góp 49% vốn (7,99 triệu USD) vào Pacific Communications (PCP - Campuchia), lắp đặt 2 đường truyền dẫn 2,5 Gbps nối Việt Nam với Campuchia. Tháng 06/2014, MobiFone được tách khỏi VNPT theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, thành lập MobiFone Global; trong năm 2014 mở văn phòng đại diện tại Campuchia (tháng 7), Myanmar (tháng 10) và Lào (tháng 12).
  • Viettel Global: Tiến hành thành lập công ty con và xây dựng hạ tầng mạng lưới trực tiếp tại 9 thị trường nước ngoài: Campuchia (nhận phép 2008, khai trương mạng Metfone tháng 02/2009), Lào (liên doanh LAT lập Star Telecom với 49% vốn, khai trương mạng Unitel tháng 10/2009), Haiti (mạng Natcom khai trương tháng 09/2011), Mozambique (thắng thầu 2010, khai trương mạng Movitel tháng 05/2012), Đông Timor (mạng Telemor khai trương tháng 03/2013), Cameroon (giấy phép tháng 12/2012), Burundi (giấy phép tháng 02/2014), Peru (mạng Bitel khai trương tháng 10/2014), và xúc tiến mạng lưới tại Tanzania. Tính đến hết năm 2014, 6 thị trường đã vận hành kinh doanh mang lại cho Viettel doanh thu 1,2 tỷ USD.

Về quy mô kim ngạch, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ viễn thông của Việt Nam giai đoạn 2009–2013 tăng từ 124 triệu USD lên 150 triệu USD (tốc độ tăng trưởng trung bình 4,9%/năm). Tuy nhiên, tỷ trọng viễn thông trong tổng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ cả nước (năm 2013 đạt 10.500 triệu USD) rất thấp, chỉ chiếm dưới 2% (chính xác hơn là xấp xỉ 1%), lép vế hoàn toàn so với dịch vụ du lịch (72%) và dịch vụ vận tải (21%).

Chương III: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ viễn thông của Việt Nam

Dựa trên thực trạng nghiên cứu và định hướng chiến lược quốc gia đến năm 2020, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ viễn thông:

  • Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách: Quản lý và thúc đẩy phát triển thị trường viễn thông nội địa theo hướng tự do hóa, cạnh tranh minh bạch, phù hợp tuyệt đối với các cam kết WTO; rà soát, đơn giản hóa thủ tục cấp phép để điều kiện cấp phép không biến thành rào cản độc lập cản trở tiếp cận thị trường; hoàn thiện cơ chế hỗ trợ tài chính, bảo hộ đầu tư cho doanh nghiệp triển khai dự án hạ tầng ở nước ngoài.
  • Nhóm giải pháp mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế và chủ động hội nhập: Tận dụng các diễn đàn đa phương (ITU, APEC, ASEAN, WTO) để kết nối đối tác; mở rộng phạm vi đầu tư từ các thị trường truyền thống và các nước đang phát triển sang các thị trường mới như Đông Âu.
  • Nhóm giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp viễn thông:
    • Phát triển và đa dạng hóa dịch vụ viễn thông: Chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu sản phẩm từ dịch vụ thoại/tin nhắn truyền thống (đang suy giảm lợi nhuận) sang dịch vụ dữ liệu tốc độ cao, dịch vụ giá trị gia tăng và dịch vụ truyền thông đa phương tiện tích hợp.
    • Đẩy mạnh ứng dụng và nghiên cứu phát triển (R&D) công nghệ: Tăng cường tự chủ công nghệ thay vì hoàn toàn phụ thuộc vào việc mua sắm, chuyển giao từ nước ngoài; khẩn trương hoàn thiện lộ trình thử nghiệm và triển khai công nghệ 4G.
    • Mở rộng hoạt động kinh doanh sang các lĩnh vực hỗ trợ liên quan để tối ưu hóa hệ sinh thái viễn thông.
    • Áp dụng triệt để mô hình "dùng chung cơ sở hạ tầng mạng" trong hoạt động đầu tư và xuất khẩu dịch vụ viễn thông nhằm cắt giảm chi phí đầu vào, rút ngắn thời gian thu hồi vốn tại các thị trường quốc tế.
  • Nhóm giải pháp phát triển chất lượng nguồn nhân lực:
    • Xây dựng bộ tiêu chuẩn nghề nghiệp chuẩn hóa theo thông lệ quốc tế trong ngành viễn thông.
    • Tăng cường hợp tác quốc tế, trao đổi chuyên gia kỹ thuật và quản trị với các quốc gia sở hữu nền viễn thông tiên tiến.
    • Xây dựng đội ngũ nhân sự chuyên trách, nhạy bén về pháp lý quốc tế và đa văn hóa để làm lực lượng tiên phong mở rộng thị trường ngoại quốc.
    • Đề xuất chuyển giao Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông về dưới sự quản lý của Tập đoàn Viettel nhằm kết nối mật thiết giữa công tác nghiên cứu, đào tạo chuyên môn với hoạt động sản xuất kinh doanh và mở rộng thị trường quốc tế của doanh nghiệp.

Kết quả và đóng góp

Về mặt dữ liệu thực chứng, khóa luận tổng hợp và phản ánh các con số kinh tế - kỹ thuật có độ chính xác cao tính đến năm 2014–2015:

  • Tốc độ tăng trưởng viễn thông nội địa đạt bình quân 24%/năm (đứng thứ 2 châu Á); mật độ thuê bao di động đạt 123 triệu thuê bao (Viettel chiếm 43,48% thị phần).
  • Tỷ lệ phổ cập Internet đạt 37% (33.166 nghìn người dùng) với 60% sử dụng băng rộng.
  • Tốc độ Internet trung bình quý IV/2014 của Việt Nam đạt 2,7 Mbps (thấp hơn nhiều so với Hàn Quốc 22,2 Mbps, Nhật Bản 15,2 Mbps).
  • Doanh thu thị trường nước ngoài của Viettel Global năm 2014 đạt 1,2 tỷ USD từ 6 thị trường đang khai thác trong tổng số 9 thị trường đã hiện diện.
  • Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ viễn thông tăng từ 124 lên 150 triệu USD (giai đoạn 2009–2013), chỉ chiếm tỷ trọng xấp xỉ 1% trong tổng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ cả nước (10.500 triệu USD năm 2013).

Về đóng góp học thuật và thực tiễn, tác giả đã:

  1. Đặt ngành viễn thông vào khung khổ lý thuyết thương mại quốc tế (GATS), phân tích sự tương tác giữa 4 phương thức cung ứng dịch vụ với các cam kết mở cửa thị trường cụ thể của Việt Nam tại ASEAN, BTA và WTO.
  2. Nhận diện rõ nét mô hình mở rộng hiện diện thương mại của Viettel Global (đầu tư hạ tầng trực tiếp tại các nước đang phát triển sơ khai) và MobiFone Global/VNPT (thiết lập văn phòng đại diện, hợp tác kinh doanh dung lượng, khai thác trạm POP và vệ tinh).
  3. Đề xuất nhóm giải pháp gắn liền với quản trị thực tiễn, tiêu biểu là kiến nghị dùng chung cơ sở hạ tầng mạng và đề xuất mô hình chuyển giao cơ sở đào tạo chuyên ngành (Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông) trực thuộc tập đoàn viễn thông lớn để phục vụ trực tiếp chiến lược vươn ra toàn cầu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận bộc lộ một số hạn chế gắn liền với phạm vi và thời điểm nghiên cứu:

  • Dữ liệu nghiên cứu thực chứng chỉ phản ánh giai đoạn từ 2009 đến cuối năm 2014, thời điểm Việt Nam chuẩn bị thử nghiệm công nghệ 4G (tháng 06/2015) và các ứng dụng dịch vụ trên nền tảng Internet (OTT) mới bắt đầu tác động mạnh đến doanh thu viễn thông truyền thống.
  • Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào số liệu của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước lớn (Viettel, VNPT, MobiFone) mà chưa phản ánh được các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong chuỗi cung ứng dịch vụ số phụ trợ.
  • Các phân tích thị trường nước ngoài (châu Phi, Mỹ Latinh) chủ yếu dựa trên báo cáo kinh doanh tổng hợp thứ cấp của doanh nghiệp, chưa tiếp cận được dữ liệu định lượng vi mô về hành vi tiêu dùng và rào cản pháp lý bản địa tại từng quốc gia tiếp nhận đầu tư.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng:

  • Đánh giá tác động thực tế của việc thương mại hóa công nghệ 4G và tiến trình thử nghiệm 5G đối với năng lực xuất khẩu dịch vụ viễn thông của Việt Nam.
  • Khảo sát chuyên sâu hiệu quả đầu tư FDI và bài toán thu hồi vốn của Viettel Global tại các thị trường châu Phi và Mỹ Latinh trong giai đoạn sau năm 2015.
  • Phân tích sự dịch chuyển từ dịch vụ viễn thông truyền thống sang kinh tế số, công nghệ điện toán đám mây và tác động của các dịch vụ OTT xuyên biên giới đối với cam kết thương mại dịch vụ quốc tế.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng sau:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Thương mại quốc tế, Kinh tế quốc tế, Quản trị kinh doanh: Tài liệu cung cấp phương pháp luận chuẩn xác khi vận dụng lý thuyết thương mại dịch vụ (GATS) và các mô hình kinh tế (Đàn nhạn bay, Mô hình kim cương) vào việc phân tích một ngành dịch vụ hạ tầng đặc thù.
  • Cán bộ hoạch định chính sách tại Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công Thương: Bản hệ thống hóa chi tiết các cam kết mở cửa thị trường viễn thông trong AFAS, BTA, WTO cùng các phân tích về điều kiện cấp phép, tỷ lệ sở hữu vốn và hạ tầng truyền dẫn tại Chương I và Chương II là tài liệu tham chiếu hữu ích trong đàm phán thương mại dịch vụ.
  • Nhà quản trị tại các doanh nghiệp viễn thông và công nghệ thông tin: Các dữ liệu thực tiễn về lộ trình mở rộng thị trường của Viettel Global, việc khai thác dung lượng vệ tinh VINASAT, cơ cấu cước roaming của Vinaphone, cũng như các khuyến nghị về việc chia sẻ hạ tầng mạng và chuẩn hóa nhân sự quốc tế tại Chương II và Chương III mang tính định hướng ứng dụng thực tế cao.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo cam kết gia nhập WTO của Việt Nam, giới hạn tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ viễn thông được quy định cụ thể như thế nào?
Theo biểu cam kết WTO của Việt Nam, đối với nhà cung cấp có hạ tầng mạng, phía nước ngoài chỉ được đầu tư dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) hoặc liên doanh với tỷ lệ góp vốn tối đa 49% vốn pháp định đối với dịch vụ cơ bản và 50% đối với dịch vụ giá trị gia tăng. Đối với nhà cung cấp không có hạ tầng mạng, tỷ lệ góp vốn nước ngoài trong liên doanh ban đầu tối đa là 51% (được nâng lên 65% từ ngày 11/01/2010), riêng dịch vụ mạng riêng ảo (VPN) phía nước ngoài được tham gia vốn tối đa lên tới 70%.

2. Hoạt động xuất khẩu dịch vụ viễn thông của Việt Nam diễn ra qua những phương thức nào theo quy định của GATS?
Dịch vụ viễn thông của Việt Nam được xuất khẩu chủ yếu qua 3 phương thức: Phương thức 1 (Cung ứng qua biên giới, tiêu biểu là chuyển vùng quốc tế data roaming và bán dung lượng vệ tinh VINASAT); Phương thức 2 (Tiêu dùng ngoài lãnh thổ, cung cấp hạ tầng và dịch vụ cho người nước ngoài, công ty đa quốc gia trên lãnh thổ Việt Nam); và Phương thức 3 (Hiện diện thương mại, tiêu biểu là việc Viettel Global thành lập công ty con và xây dựng hạ tầng mạng lưới trực tiếp tại 9 quốc gia, hoặc VNPT/MobiFone Global mở chi nhánh, văn phòng đại diện và trạm POP tại nước ngoài). Phương thức 4 (Di chuyển thể nhân) chưa có quy định pháp lý rõ ràng và trên thực tế dịch vụ viễn thông không thể cung ứng đơn lẻ bởi một thể nhân.

3. Đến hết năm 2014, Viettel Global đã hiện diện thương mại tại những quốc gia nào và đạt kết quả doanh thu ra sao?
Tính đến hết năm 2014, Viettel Global đã thành lập công ty con hoặc liên doanh tại 9 quốc gia gồm: Campuchia (mạng Metfone), Lào (mạng Unitel), Haiti (mạng Natcom), Mozambique (mạng Movitel), Đông Timor (mạng Telemor), Cameroon, Burundi, Peru (mạng Bitel) và xúc tiến mạng lưới tại Tanzania (bao phủ thị trường 175 triệu dân). Trong đó, có 6 thị trường đã chính thức vận hành kinh doanh và mang lại cho Viettel doanh thu 1,2 tỷ USD trong năm 2014.

4. Tốc độ truy cập Internet của Việt Nam trong quý IV năm 2014 được xếp hạng như thế nào so với các nước trong khu vực châu Á?
Theo số liệu thống kê được tác giả tổng hợp trong quý IV/2014, tốc độ truy cập Internet trung bình của Việt Nam chỉ đạt 2,7 Mbps, đứng ở nhóm cuối tại khu vực châu Á (bằng Philippines với 2,7 Mbps, chỉ đứng trên Ấn Độ với 2,0 Mbps và Indonesia với 1,9 Mbps), kém rất xa các quốc gia và vùng lãnh thổ dẫn đầu như Hàn Quốc (22,2 Mbps), Hồng Kông (16,8 Mbps), Nhật Bản (15,2 Mbps) và Singapore (11,7 Mbps).

5. Đóng góp của kim ngạch xuất khẩu dịch vụ viễn thông vào tổng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam giai đoạn 2009–2013 có đặc điểm gì?
Giai đoạn 2009–2013, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ viễn thông của Việt Nam tăng từ 124 lên 150 triệu USD, tương ứng tốc độ tăng trưởng bình quân 4,9%/năm. Mặc dù tổng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ cả nước năm 2013 đạt 10.500 triệu USD, tỷ trọng đóng góp của dịch vụ viễn thông giữ ở mức rất khiêm tốn: dưới 2% (chính xác hơn là xấp xỉ 1%), trong khi dịch vụ du lịch chiếm tới 72% và dịch vụ vận tải chiếm 21%.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Trần Vũ Diệu Linh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về thương mại dịch vụ viễn thông theo chuẩn mực quốc tế GATS, đồng thời phân tích sâu sắc các cam kết mở cửa thị trường của Việt Nam tại ASEAN, BTA và WTO. Thông qua việc phân tích thực trạng hạ tầng viễn thông nội địa và chiến lược vươn ra quốc tế của hai đầu tàu Viettel Global và VNPT/MobiFone Global đến năm 2014, công trình chỉ rõ những điểm nghẽn về tốc độ đường truyền, chất lượng dịch vụ và tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu còn khiêm tốn. Các giải pháp được tác giả đề xuất—đặc biệt là mô hình dùng chung hạ tầng mạng và việc gắn kết cơ sở đào tạo với doanh nghiệp thực tế—mang lại hàm lượng khoa học và giá trị tham khảo rõ ràng cho tiến trình phát triển và đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ viễn thông của Việt Nam.