Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỰ THỎA MÃN VÀ GẮN KẾT CỦA NHÂN VIÊN TRONG TỔ CHỨC 1. Sự thỏa mãn của nhân viên Theo nghiên cứu của Smith & Hulin 1996, sự thỏa mãn với công việc là thái độ ảnh hưởng, ghi nhận của nhân viên về các khía cạnh khác nhau trong công việc. Theo Vroom (Price,1997) cho rằng sự thỏa mãn là mức độ mà nhân viên có cảm nhận, định hướng tích cực với việc làm trong tổ chức. Để tăng hiệu quả trong công việc cần phải có động viên, qua động viên để khơi dậy nổ lực và từ đó làm tăng hiệu quả trong công việc Để đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ thỏa mãn chung, Smith el al (1996) thiết lập thang đo mô tả công việc gồm 5 yếu tố: Bản chất công việc, cơ hội đào tạo và thăng tiến, lãnh đạo, đồng nghiệp và tiền lương.
Trong nghiên cứu của Kim Dung (2005), hai yếu tố phúc lợi và điều kiện làm việc đã được bổ sung vào nghiên cứu về sự thỏa mãn của nhân viên và mức độ gắn kết với tổ chức. Các yếu tố thỏa mãn thành phần: 1. Lãnh đạo Lãnh đạo được định nghĩa là hành vi của một cá nhân mà kết quả của hành vi đó có tác động mang tính cưỡng chế khi người đó đang thực hiện vai trò chỉ đạo và phối hợp các hoạt động của một tổ chức nhằm hoàn thành một nhiệm vụ chung (Bryman 1992). Nhân tố này thể hiện sự quan tâm, lắng nghe, hỗ trợ của cấp trên với nhân viên, việc đối xử của cấp trên với các nhân viên cũng như sự giao tiếp cởi mở đối với nhân viên trong tổ chức.
Những sự khen thưởng nhân viên cũng như khuyến khích của lãnh đạo có ảnh hưởng rất quan trọng đối sự phát triển của cá nhân người lao động và tổ chức. Phong cách lãnh đạo sẽ ảnh hưởng đến sự tích cực và cam kết cao độ ở những người đi theo dưới quyền cũng như hiệu suất của tổ chức tăng cao trên mức bình thường. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Các hành vi lãnh đạo tác động theo chiều hướng tích cực đến sự gắn bó của nhân viên với tổ chức và thay đổi các ý định rời bỏ tổ chức. Đồng nghiệp Đồng nghiệp là những người cùng làm việc với nhau trong một tổ chức, thường xuyên tương tác, trao đổi và chia sẻ với nhau trong công việc.
Họ có thể là những người thuộc cùng một phòng ban hay thuộc các phòng ban khác nhau nhưng có hỗ trợ nhau vì mục tiêu chung của tổ chức. Bên cạnh những mối quan hệ với cấp trên, người lao động trong tổ chức cần sự hỗ trợ, giúp đỡ của những đồng nghiệp khi cần thiết. Những đồng nghiệp thể hiện sự gắn kết tốt với tổ chức sẽ có những hành động như: Hỏi thăm nhau mỗi ngày để thể hiện sự quan tâm Lắng nghe cảm xúc và thông tin, sau đó theo sát và thể hiện thái độ mong muốn giúp đỡ Cùng nhau tham gia những hoạt động xã hội Chủ động hợp tác với tất cả mọi người thay vì khuyến khích sự bè phái Nhấn mạnh những điểm tích cực Không chấp nhận những hành động hạ thấp bản thân của người khác mà tập trung nhìn nhận những điểm tốt và tích cực ở nhân viên mới hay đồng nghiệp hiện tại Từ chối phát tán những lời đồn tiêu cực về người khác 1. Phúc lợi Phúc lợi có thể được xem như là hình thức trả công lao động có tính tài chính gián tiếp.
Nó có thể được coi như là tất cả các khoản thưởng và dịch vụ do chủ sử dụng lao động cung ứng, chứ không hẳn là tiền công hay là lương (Ivancevich, 2007). Phúc lợi bao gồm: bảo hiểm xã hội; bảo hiểm thất nghiệp; bảo hiểm y tế; hưu trí; nghỉ phép, nghỉ lễ; các chương trình giải trí, nghỉ mát; nhà ở; phương tiện đi lại; chế độ ăn trưa do doanh nghiệp đài thọ, trợ cấp của doanh nghiệp cho các nhân viên đông con hoặc TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 có hoàn cảnh khó khăn, quà tặng của doanh nghiệp cho nhân viên vào các dịp sinh nhật, cưới hỏi, mừng thọ cha mẹ nhân viên,. Một chính sách phúc lợi tốt không chỉ thỏa mãn người lao động một phần về mặt vật chất mà nó còn là một liều thuốc kích thích tinh thần, khiến người lao động cảm thấy họ được quan tâm về sức khỏe và cả đời sống cá nhân, gia đình. Khi các yếu tố này được thỏa mãn, người lao động phần nào xem tổ chức như ngôi nhà thứ hai của mình và họ sẽ gắn bó hơn với tổ chức 1.
Đào tạo và sự thăng tiến Đào tạo là là nỗ lực cải thiện hiệu quả làm việc hiện tại hoặc tương lai hay có thể nói, đó là quá trình thay đổi có hệ thống hành vi của nhân viên làm sao giúp cho các nhân viên đạt được những mục tiêu của công ty. Đào tạo tức là chỉ bảo các kỹ năng và khả năng cần có của các công việc hiện tại. Nó có một chương trình định hướng hiện tại và giúp nhân viên thành thạo các kỹ năng và khả năng cụ thể cần có nếu muốn thành công trong công việc. Về mặt ý nghĩa, đào tạo giúp cho người lao động có thể cập nhật các kiến thức và kỹ năng mới nhằm áp dụng thành công các thay đổi về công nghệ kỹ thuật trong tổ chức.
Đồng thời giúp cho người lao động rèn luyện được các kỹ năng cần thiết cho các cơ hội thăng tiến nghề nghiệp trong tương lai.Thăng tiến là việc một cá nhân trong tổ chức di chuyển từ vị trí thấp (nhân viên) lên vị cao hơn (tổ trưởng/ quản lý) hoặc từ một công việc kém quan trọng lên làm một công việc quan trọng hơn trong một tổ chức. Nếu như một tổ chức luôn dành những cơ hội thăng tiến với quy trình, điều kiện rõ ràng và cam kết thực hiện một cách công bằng thì sẽ nâng cao tinh thần học hỏi, làm việc say mê của người lao động và làm cho họ gắn bó với tổ chức hơn. Điều kiện làm việc Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố kỹ thuật, tổ chức lao động, kinh tế, xã hội, tự nhiên, môi trường và văn hoá xung quanh con người nơi làm việc (Viện Sức khỏe nghề nghiệp và môi trường). Các yếu tố này tác động lên trạng thái chức năng của cơ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 thể con người, ảnh hưởng đến khả năng làm việc, thái độ lao động, sức khỏe, quá trình tái sản xuất sức lao động và hiệu quả lao động của họ trong hiện tại cũng như về lâu dài.
- Các yếu tố kỹ thuật, tổ chức lao động: máy, thiết bị, công cụ, nhà xưởng, năng lượng, nguyên nhiên vật liệu. - Tính chất của quá trình lao động: lao động thể lực hay trí óc, lao động thủ công, cơ giới, tự động. - Các yếu tố về tổ chức bố trí lao động: bố trí vị trí lao động, phương pháp hoạt động, thao tác, chế độ lao động nghỉ ngơi, chế độ ca kíp, thời gian lao động. - Yếu tố tâm - sinh lý: gánh nặng thể lực, căng thẳng thần kinh - tâm lý, thần kinh - giác quan.
- Đặc điểm của lao động: cường độ lao động, chế độ lao động, tư thế lao động không thuận lợi và đơn điệu trong lao động không phù hợp với hoạt động tâm sinh lý bình thường và nhân trắc của cơ thể người lao động trong lao động… Chẳng hạn, cường độ lao động quá mức theo ca, kíp, tư thế làm việc gò bó trong thời gian dài, ngửa người, vẹo người, treo người trên cao, mang vác nặng, động tác lao động đơn điệu buồn tẻ.hoặc với trách nhiệm cao gây căng thẳng về thần kinh tâm lý. - Các yếu tố môi trường lao động: vi khí hậu, tiếng ồn và rung động, bức xạ và phóng xạ, chiếu sáng không hợp lý, bụi, các hoá chất độc, các yếu tố vi sinh vật có hại… 1. Thu nhập Theo Willis (2000), tiền lương “là một trong những vấn đề quan trọng nhất để thu hút và giữ được nhân tài”. Tiền lương không hẳn là quan trọng nhất trong việc giữ chân người tài nhưng chắc hẳn không ai có thể phủ nhận mức độ ảnh hưởng của nhân tố này đến thái độ làm việc, tinh thần cống hiến và sự trung thành của nhân viên với tổ chức.
Một mức lương công bằng là nền tảng của các thỏa thuận thể hiện trên hợp đồng hoặc thỏa thuận ngầm giữa người lao động và người sử dụng lao động. Hay theo TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Parker và Wright (2001), số tiền có thể ảnh hưởng đến hành vi. Không hiếm các tổ chức hiện nay sử dụng việc trả lương như là một công cụ để ghi nhận những đóng góp, hiệu suất và thành công của nhân viên. Điều hiển nhiên, nhân viên càng quan trọng trong tổ chức thường có mức lương càng cao.
Các nghiên cứu đã chứng minh rằng tiền lương ảnh hưởng đến việc tuyển dụng duy trì nhân viên (Parker và Wright, 2001) và do đó nó đóng một vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện công tác nhân sự. Tuy nhiên, trong thực tế, lương được coi là một kết quả trong các kết quả công việc và thường được đo lường với độ chính xác không cao (Mitchell và Mickel, 1999). Mặc dù sự hài lòng của nhân viên có mối liên quan nhất định với chế độ tiền lương, và mối quan hệ này là một trong nhiều động lực để thực hiện cam kết với tổ chức nhưng mối liên hệ này chỉ được coi là một phần trong bức tranh phức tạp. Để duy trì và tạo nên sự gắn kết của nhân viên với tổ chức cần phối hợp với chế độ thưởng phù hợp và các yếu tố khác một cách linh hoạt.
Thương hiệu công ty Thương hiệu công ty là những giá trị của công ty xây dựng được trong suốt quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, được tạo ra sự tin tưởng từ chính những cam kết và những gì mà tổ chức đã làm được, bao gồm thương hiệu của công ty trên thị trường trong và ngoài nước, lịch sử phát triển của công ty, những hoạt động xã hội mà công ty đã tham gia hay tổ chức, tình hình giao dịch cổ phiếu,… Thương hiệu công ty được đề cập như là những giá trị mà tổ chức đó sẽ cung cấp và bảo đảm cho những yêu cầu của khách hàng và của nhân viên (Aaker, 2004, trang 7). Những điều này tạo nên giá trị tinh thần cho nhân viên khi làm việc tại công ty, làm nền tảng thu hút nhân tài và gắn bó của nhân viên.