CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Sự hài lòng của khách hàng cá nhân về chất lượng dịch vụ cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại.1 Khái niệm dịch vụ cho vay tiêu dùng khách hàng cá nhân Dịch vụ: Theo bách khoa toàn thư mở thì dịch vụ trong kinh tế học, được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất. Có nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ. Theo Zeithaml và Britner (2000), dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng làm thoả mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng.
Theo Kotler & Armstrong (2004), dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng. Theo Philip Kotler, dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với sản phẩm vật chất. Cho vay: Theo quy định tại luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH2 ngày 16/06/2010 thì cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Từ các khái niệm trên có thể hiểu dịch vụ cho vay là dịch vụ cung cấp vốn cho khách hàng theo nguyên tắc có hoàn trả và ngân hàng thu chênh lệch qua lãi suất cho vay. 6 Khách hàng cá nhân là một người hoặc một nhóm người đã, đang hoặc sẽ mua và sử dụng sản phẩm dịch vụ phục vụ cho mục đích cá nhân của họ. Như vậy cho vay tiêu dùng khách hàng cá nhân là việc ngân hàng cho vay giao cho khách hàng cá nhân một khoản tiền theo thoả thuận theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi trong một thời gian nhất định sử dụng để phục vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt và các nhu cầu phục vụ đời sống. Đặc điểm của dịch vụ cho vay tiêu dùng Một là: Cho vay tiêu dùng có tính nhạy cảm theo chu kỳ kinh tế Thu nhập phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó một yếu tố quan trọng là chu kỳ của nền kinh tế.
Khi nền kinh tế phát triển mọi người kỳ vọng rằng trong tương lai thu nhập của mình sẽ tăng cao và họ có khả năng chi tiêu nhiều hơn, đồng thời nhà sản xuất được khuyến khích sản xuất ra nhiều mặt hàng đa dạng về mẫu mã, chủng loại cũng như nâng cao chất lượng sản phẩm, từ đó khuyến khích được nhu cầu tiêu dùng của dân cư. Nếu nhu thu nhập của người dân không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng, họ sẽ phát sinh nhu cầu vay vì tin tưởng rằng nền kinh tế lạc quan như vậy, chắc chắn họ sẽ hoàn trả được các khoản vay ngân hàng trong tương lai. Các ngân hàng cũng lạc quan về nền kinh tế nên sẽ mở rộng quy mô tín dụng. Vì vậy cho vay tiêu dùng phát triển khi nền kinh tế tăng trưởng và ngược lại với nền kinh tế suy thoái cho vay tiêu dùng cũng bị thu hẹp.
Hai là quy mô cho vay tiêu dùng nhỏ Đặc điểm này xuất phát từ đối tượng cho vay tiêu dùng là cá nhân. Họ thường vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng khi mà tích luỹ chưa đủ khả năng chi trả. Vì vậy các khoản cho vay tiêu dùng thường có quy mô nhỏ so với tổng tài sản của ngân hàng nhưng số lượng khoản vay lại rất lớn do số lượng cá nhân lớn và nhu cầu chi tiêu đa dạng. Ba là cho vay tiêu dùng ít nhạy cảm với lãi suất 7 Khách hàng vay tiêu dùng thường quan tâm tới những tiện ích và giá trị mà tiêu dùng đem lại nhằm hài lòng nhu cầu tiêu dùng hơn là chi phí phải trả để có khoản vay đó.
Mặc khác, khoản vay nhỏ, số tiền thanh toán cố định theo định kỳ, vì vậy số tiền phải trả theo định kỳ không quá lớn, không gây áp lực cho người tiêu dùng Bốn là chất lượng các thông tin tài chính của khách hàng vay thường không cao Đối với cá nhân thì thông tin để ngân hàng quyết định có cho vay hay không đó là những thông tin về nghề nghiệp, thu nhập, độ tuổi, tình trạng sức khoẻ, nơi cư trú. Những thông tin này do khách hàng cung cấp vì vậy mang tính chủ quan, một chiều không được kiểm toán, kiểm soát bởi cơ quan độc lập bên ngoài do đó tiềm ẩn rủi ro cho ngân hàng. Năm là nguồn trả nợ chủ yếu của người đi vay có thể biến động lớn, phụ thuộc vào quá trình làm việc, kỹ năng và kinh nghiệm đối với công việc của những người này. Nguồn trả nợ của khách hàng được trích từ thu nhập, thu nhập này có thể thay đổi tuỳ theo tình trạng sức khoẻ, công việc cũng như cơ cấu, chu kỳ kinh tế.
Những khách hàng có việc làm, mức thu nhập ổn định, có trình độ học vấn là nhân tố quan trọng để ngân hàng quyết định cho vay. Sáu là tư cách của khách hàng Đây là yếu tố khó xác định song lại rất quan trọng, quyết định sự hoàn trả của khoản vay. Bảy là lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao Do quy mô khoản vay thường nhỏ (trừ các khoản vay mua bất động sản), dẫn đến chi phí để cho vay (thời gian, nguồn nhân lực thẩm định, quản lý các khoản vay,.) cao đồng thời tiềm ẩn nhiều rủi ro, ảnh hưởng tới sự an toàn của ngân hàng. Vì vậy khách hàng muốn tài trợ cho vay tiêu dùng thường chịu mức lãi suất 8 khá cao.
Mức lãi suất này giúp ngân hàng hạn chế được rủi ro và hạn chế những tổn thất trong trường hợp xảy ra sự cố ngoài ý muốn.3 Các sản phẩm dịch cho vay tiêu dùng khách hàng cá nhân của ngân hàng. Căn cứ vào mục đích cho vay, cho vay tiêu dùng được phân thành: Cho vay tiêu dùng bất động sản: là khoản cấp tín dụng cho nhu cầu mua, xây dựng, sửa chữa, cải tạo bất động sản. Đặc điểm của món vay này là quy mô thường lớn, thời gian dài. Cho vay tiêu dùng thông thường: đây là những món vay tài trợ cho nhu cầu của đời sống như: cho vay mua xe, cho vay mua sắm phương tiện, du lịch, cưới hỏi, du học,.
Đặc điểm của những khoản vay này là quy mô nhỏ, thời gian ngắn do đó mức độ rủi ro của những món vay này tương đối thấp hơn cho vay tiêu dùng bất động sản. Ý nghĩa của dịch vụ cho vay tiêu dùng 1. Đối với ngân hàng thương mại Đối với ngân hàng ngoài những nhược điểm chính là rủi ro và chi phí cao, cho vay tiêu dùng có những lợi ích sau: + Giúp mở rộng quan hệ với khách hàng, từ đó làm tăng khả năng huy động các loại tiền gửi cho ngân hàng. + Tạo điều kiện đa dạng hoá hoạt động kinh doanh, nhờ vậy nâng cao thu nhập và phân tán rủi ro cho ngân hàng.
Đối với khách hàng Cuộc sống con người không ngừng được nâng cao làm cho nhu cầu của con người về tiêu dùng không dừng lại ở mặt hàng giản đơn. Ngày nay nhu cầu của con người về những mặt hàng xa xỉ tăng cao như: ô tô, du lịch,. Nhờ vay tiêu dùng họ được hưởng các tiện ích trước khi tích luỹ đủ tiền và đặc biệt quan 9 trọng hơn nó rất cần thiết cho những trường hợp khi cá nhân có các chi tiêu có tính cấp bách như nhu cầu chi tiêu giáo dục y tế. Tuy vậy, người tiêu dùng cần tính toán để việc chi tiêu được hợp lý không vượt quá mức cho phép và đảm bảo khả năng chi trả.3 Đối với nền kinh tế Cho vay tiêu dùng có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Nó được thể hiện qua một số khía cạnh như: Một là bằng cách hỗ trợ người tiêu dùng chi tiêu hiện tại nhưng được hoàn trả trong tương lai, cho vay tiêu dùng đã kích cầu, làm gia tăng nhu cầu hàng hoá dịch vụ trong dân cư. Đồng thời với sản phẩm cho vay tiêu dùng, chất lượng cuộc sống của dân cư cũng được cải thiện và dần nâng cao. Hai là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày một tăng lên, các nhà máy mở rộng sản xuất tạo ra nhiều sản phẩm đa dạng về mẫu mã và chủng loại. Đồng thời cũng tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập cho người dân, đời sống người dân được nâng cao.
Ba là cho vay tiêu dùng làm tăng tốc độ luân chuyển hàng hoá dịch vụ, giúp cho các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, đời sống người dân được cải thiện, từ đó thúc đẩy tăng trưởng sản xuất. Chất lượng dịch vụ 1. Khái niệm chất lượng dịch vụ Khác với chất lượng hàng hoá là hữu hình có thể đo lường được bởi các tiêu chí khách quan như tính năng, đặc tính và độ bền thì chất lượng dịch vụ là vô hình. Do đó tài liệu xác định chất lượng dịch vụ là dựa theo chủ quan, thái độ và khả năng nhận biết.
10 Chất lượng dịch vụ là một khái niệm rất mơ hồ, khó đo lường chính xác được. Chúng ta tham khảo một số ý kiến : Zeithaml (1987) giải thích: “Chất lượng dịch vụ là sự đánh giá của khách hàng về tính siêu việt và sự tuyệt vời nói chung của một thực thể. Nó là một dạng của thái độ và các hệ quả từ một sự so sánh giữa những gì được mong đợi và nhận thức về những thứ ta nhận được.” Lewis và Booms (1993) phát biểu: “Dịch vụ là một sự đo lường mức độ dịch vụ được đưa đến khách hàng tương xứng với mong đợi của khách hàng tốt đến đâu. Việc tạo ra một dịch vụ chất lượng nghĩa là đáp ứng mong đợi của khách hàng một cách đồng nhất.” Như vậy, chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng về những tiện ích và dịch vụ sẽ mang lại cho khách hàng và cảm nhận của khách hàng về kết quả có được sau khi sử dụng dịch vụ đó.