phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo; nội dung chính của luận văn gồm 4 chƣơng sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh tín dụng của ngân hàng thƣơng mại. Phƣơng pháp nghiên cứu. Thực trang năng lực cạnh tranh tín dụng tại Agribank Vĩnh Phúc.
Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh tín dụng của Agribank Vĩnh Phúc. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về hoạt động tín dụng của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm Quan hệ tín dụng đƣợc hình thành từ rất sớm, đến ngày nay thì đã phát triển hết sức đa dạng, dƣới nhiều hình thức khác nhau, giữa nhiều chủ thể kinh tế khác nhau nhƣ giữa nhà nƣớc và doanh nghiệp, giữa các doanh nghiệp với nhau, giữa nhà nƣớc, doanh nghiệp với ngƣời dân; giữa Ngân hàng với doanh nghiệp, ngƣời dân.
Đối với các ngân hàng, tín dụng đƣợc coi là hoạt động cơ bản nhất vì vậy trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động thì chúng ta có khái niệm tín dụng ngân hàng nhƣ sau: Tín dụng ngân hàng là quan hệ bằng tiền hoặc tài sản giữa một bên cho vay là ngân hàng với một bên đi vay là các chủ thể khác của nền kinh tế nhƣ nhà nƣớc, các tổ chức xã hội, các tầng lớp dân cƣ theo nguyên tắc vay có hoàn trả. Trong đó ngân hàng chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên đi vay sử dụng, sau một thời gian nhất định bên đi vay hoàn trả vốn gốc cộng thêm một phần lãi đã thỏa thuận với nhau từ trƣớc. Với chức năng kinh doanh tiền tệ của mình, các ngân hàng tham gia vào quá trình tín dụng với tƣ cách là ngƣời đi vay và ngƣời cho vay đối với các chủ thể kinh tế khác nhau. Quan hệ tín dụng mà ngân hàng đóng vai trò là ngƣời cho vay là một trong ba nghiệp vụ quan trọng nhất hình thành nên NHTM đồng thời cũng là nghiệp vụ mang lại thu nhập chủ yếu và quyết định lợi nhuận của toàn bộ ngân hàng (Lê Văn Tƣ, 2005).
Tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp đƣợc tiến hành dựa trên các nguyên tắc sau: - Nguyên tắc mục đích: Ngân hàng chỉ cung cấp tín dụng cho những doanh nghiệp nhất định có hoạt động kinh doanh cụ thể và mục đích sử dụng tiền vay rõ ràng. Doanh nghiệp khi đi vay phải cam kết sử dụng tín dụng theo mục đích đƣợc thoả thuận với ngân hàng, không trái với quy định của pháp luật và các quy định Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 của ngân hàng. - Nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi: Ngân hàng huy động vốn từ các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế, và sử dụng nguồn này để cho doanh nghiệp vay. Sau khi doanh nghiệp đã khai thác và sử dụng khoản vay, doanh nghiệp phải trả lại toàn bộ giá trị khoản vay kèm theo một khoản lợi tức hợp lý nhƣ đã cam kết từ ban đầu.
- Nguyên tắc tài sản đảm bảo: Đối với mỗi khoản vay thì cần đi kèm với một lƣợng giá trị tài sản đảm bảo nào đó nhƣ nhà cửa, đất đai, máy móc, thiết bị. nhằm giảm thiểu tối đa rủi ro cho ngân hàng trong trƣờng hợp khách hàng gặp khó khăn không thể trả đƣợc nợ hoặc cố tình dây dƣa không trả nợ. Đối với những doanh nghiệp là khách hàng lâu năm, có uy tín, có hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định thì không cần tài sản đảm bảo, đây là hình thức cho vay tín chấp. Các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động tín dụng của NHTM Tín dụng ngân hàng đối với khách hàng đƣợc tiến hành dựa trên các nguyên tắc sau: - Nguyên tắc mục đích: Ngân hàng chỉ cung cấp tín dụng cho những khách hàng nhất định có hoạt động kinh doanh cụ thể và mục đích sử dụng tiền vay rõ ràng.
Khách hàng khi đi vay phải cam kết sử dụng tín dụng theo mục đích đƣợc thoả thuận với ngân hàng, không trái với quy định của pháp luật và các quy định của ngân hàng. - Nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi: Ngân hàng huy động vốn từ các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế, và sử dụng nguồn này để cho khách hàng vay. Sau khi khách hàng đã khai thác và sử dụng khoản vay, khách hàng phải trả lại toàn bộ giá trị khoản vay kèm theo một khoản lợi tức hợp lý nhƣ đã cam kết từ ban đầu. Nguyên tắc tài sản đảm bảo: Đối với mỗi khoản vay thì cần đi kèm với một lƣợng giá trị tài sản đảm bảo nào đó nhƣ nhà cửa, đất đai, máy móc, thiết bị.
nhằm giảm thiểu tối đa rủi ro cho ngân hàng trong trƣờng hợp khách hàng gặp khó khăn không thể trả đƣợc nợ hoặc cố tình dây dƣa không trả nợ. Đối với những khách hàng là khách hàng lâu năm, có uy tín, có hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định thì không cần tài sản đảm bảo, đây là hình thức cho vay tín chấp (Lê Văn Tƣ, 2005). Vai trò của hoạt động tín dụng - Đối với ngân hàng: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 Trong quá trình phát triển, mặc dù môi trƣờng kinh doanh có nhiều thay đổi, sản phẩm mới, công cụ kinh doanh mới liên tục xuất hiện và đƣợc thay thế nhƣng hoạt động tín dụng vẫn luôn là hoạt động cơ bản, chiếm tỷ trộng lớn trong toàn bộ các hoạt động kinh doanh của ngân hàng, thƣờng chiếm trên 70% tổng tài sản Có. Hoạt động tín dụng đảm bảo nguồn thu chủ yếu cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Đó là công cụ để tạo nên lợi nhuận và phòng chống rủi ro cho ngân hàng. Trong quá trình hoạt động của ngân hàng, các nhà quản trị ngân hàng cần quan tâm đến các vấn đề: phải tạo đƣợc nguồn thu để bù đắp đƣợc các chi phí nhƣ chi phí huy động vốn, chi phí tiền lƣơng, chi phí quản lí…và đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hàng. Cùng với sự phát triển của nền kin tế thị trƣờng, hoạt động tín dụng ngày càng đƣợc phát triển một cách đa dạng với sự tham gia của nhiều chủ thể kinh tế. Theo đó quan hệ tín dụng cũng đƣợc mở rộng cả về đối tƣơng và quy mô làm cho hoạt động tín dụng ngày càng đa dạng và phức tạp hơn.
Hiện nay, các khách hàng đang hoạt động trong môi trƣờng cạnh tranh hết sức gay gắt, các ngân hàng cũng không nằm ngoài xu thế đó. Để có thể đứng vững trong điều kiện nhƣ vậy, đòi hỏi các NHTM phải đa da hóa các hoạt động kinh doanh của mình, mở rộng phạm vi hoạt động, nghiên cứu và đƣa ra các sản phẩm mới phục vụ tốt hơn nhu cầu khách hàng và đặc biệt không ngƣng nâng cao chất lƣợng tín dụng. - Đối với khách hàng: Trong quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hóa, bởi các khách hàng không thể tiến hành sản xuất kinh doanh nếu không có vốn hoặc quá trình sản xuất kinh doanh có thể bị gián đoạn do thiếu vốn. Nhờ có vốn tín dụng, các đơn vị kinh tế không chỉ đảm bảo quá trình kinh doanh bình thƣờng mà còn có vốn để mở rộng sản xuất và cải tiến kĩ thuật, áp dụng những công nghệ mới từ đó thắng lợi trong cạnh tranh.
Khi có đủ vốn họ có thể dễ dàng hơn trong việc thực hiện các kế hoạch đầu tƣ hay sản xuất kinh doanh của mình, ngƣợc lại khi thiếu vốn, họ sẽ luô găp khó khăn trong các quyết định kinh tế, khi có vốn tạm thời nhàn rỗi, họ cũng mất chi phí cơ hội của vốn. Trƣớc tình hình đó các khách hàng cần vốn phải tìm nguồn để bù đắp, các khách hàng thừa vốn lại muốn cung vốn để đầu tƣ. Tuy nhiên, việc các tổ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 7 chức thiếu vốn tìm đƣợc chủ thể khác thừa vốn trong nền kinh tế là hết sức khó khăn và tốn kém. Sự có mặt của tín dụng ngân hàng đƣợc coi nhƣ là một công cụ để kết nối nhu cầu của ngƣời có vốn tạm thời nhàn rỗi và ngƣời thiếu vốn.
- Đối với nền kinh tế: Ngân hàng trong nền kinh tế với là khách hàng khinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ. Với tƣ cách là trung gian tài chính, nó là kênh chuyển vốn, từ những nơi thừ vốn đến những nơi thiếu vốn và hoạt động hiệu quả trong nền kinh tế. Hoạt động tín dụng không chỉ tạo ra thu nhập chủ yếu cho ngân hàng mà còn tạo ra nguồn thu chủ yếu cho ngân sách nhà nƣớc. Tín dụng ngân hàng là công cụ để nhà nƣớc điều tiết khối lƣợng tiền tệ trong lƣu thông.
Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện phát huy các ngành nghề, góp phần giải quyết việc làm cho ngƣời lao động. Từ đó cải thiện đời sống xã hội, hạn chế những tiêu cực, ổn định xã hội, giữ vững an ninh chính trị (Edward W. Phân loại tín dụng ngân hàng Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các khoản vay theo nhóm dựa trên một số tiêu thức nhất định. Phân loại tín dụng một cách khoa học sẽ giúp cho nhà quản trị lập một quy trình tín dụng thích hợp, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng.
Dƣới đây là một số cách phân chia mà ngân hàng thƣờng sử dụng khi phân tích và đánh giá (Edward W. Theo mục đích Căn cứ vào tiêu thức này ngƣời ta chia cho vay ra làm các loại sau: - Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất nhƣ giống cây trồng, phân bón, thức ăn gia súc. - Cho vay cá nhân: là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng nhƣ mua sắm các vật dụng đắt tiền, các khoản cho vay để trang trải các chi phí thông thƣờng của đời sống. - Cho vay các định chế tài chính: bao gồm cấp tín dụng cho các ngân hàng, quỹ tín dụng, công ty tài chính, công ty bảo hiểm và các định chế tài chính khác.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 8 - Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực thƣơng mại và dịch vụ. - Cho thuê: gồm cho thuê vận hành và cho thuê tài chính. - Cho vay công nghiệp và thƣơng mại là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lƣu động cho các khách hàng trong lĩnh vực công nghiệp, thƣơng nghiệp và dịch vụ.