CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TƯ VẤN VÀ NĂNG LỰC TƯ VẤN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 1. Khái quát chung về tư vấn, tư vấn đầu tư xây dựng 1. Khái niệm chung Dịch vụ Tư vấn đã xuất hiện và được sử dụng rộng rãi tại Việt Nam từ nhiều năm trước đây, tuy vậy, Tư vấn vẫn còn là một khái niệm rất mới ở Việt Nam. Trước đây, trong các giới hữu quan ở Việt Nam, Tư vấn thường được hiểu một cách phổ biến như là "việc bán những lời khuyên nghề nghiệp" và "thường có sự hiểu lẫn lộn giữa Tư vấn và Môi giới, giữa hoạt động tư vấn và việc đưa ra những lời khuyên đơn giản".
Việc định nghĩa "tư vấn là gì" vẫn đang còn là vấn đề tranh cãi. Tư vấn có thể có rất nhiều nghĩa, tựu chung lại một ý tưởng chính là đưa ra các lời khuyên về nghiệp vụ. Công ty tư vấn sẽ "tư vấn" một doanh nghiệp theo đúng cách mà một người đưa ra lời khuyên cho bạn bè hay người thân lúc cấp thiết. Tư vấn là một dịch vụ trí tuệ, một hoạt động “chất xám” cung ứng cho khách hàng những lời khuyên đúng đắn về chiến lược, sách lược, biện pháp hành động và giúp đỡ, hướng dẫn khách hàng thực hiện những lời khuyên đó, kể cả tiến hành những nghiên cứu soạn thảo dự án và giám sát quá trình thực thi dự án đạt hiệu quả yêu cầu.
Tư vấn xây dựng là một loại hình tư vấn đa dạng trong công nghiệp xây dựng, kiến trúc, quy hoạch đô thị và nông thôn.có quan hệ chặt chẽ với tư vấn đầu tư, thực hiện phần việc tư vấn tiếp nối sau việc của tư vấn đầu tư. Tư vấn xây dựng giúp cho khách hàng - chủ đầu tư xây dựng, các cơ quan và cá nhân có nhu cầu - quản lý dự án xây dựng: tổ chức việc khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng và tổ chức đấu thầu để mua sắm thiết bị đầu tư, đấu thầu xây lắp công trình, giám sát thi công xây dựng, nghiệm thu công việc đã hoàn thành. Tư vấn xây dựng còn có thể được hiểu là các kiến trúc sư, kỹ sư. , những chuyên gia xây dựng có kỹ năng đa dạng, cung cấp các dịch vụ thiết kế, quản lý cho một dự án xây dựng thông qua các hợp đồng kinh tế.
Cách hiểu này phản ánh bản chất đa dạng của hoạt động tư vấn xây dựng, nó liên quan đến nhiều lĩnh vực, trong 2 mọi giai đoạn của dự án và đòi hỏi không những khả năng về kỹ thuật, quản lý, mà còn phụ thuộc một cách quyết định vào sự hiểu biết và những kỹ năng khác, bao gồm "cập nhật", "phát hiện", "sáng tác", lựa chọn", "chuyển giao". Vai trò của tư vấn xây dựng Cùng với quá trình hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới, ngành dịch vụ tư vấn trở thành một trong những ngành quan trọng và càng quan trọng hơn khi Việt Nam đang đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hoạt động của tư vấn là hoạt động của trí tuệ, không chỉ dựa vào khoa học - kỹ thuật - công nghệ mà còn là hoạt động tổng hợp chính trị - kinh tế - xã hội đa dạng mang tính cộng đồng và xã hội sâu sắc. Tư vấn xây dựng là chiếc cầu nối giữa chủ đầu tư và nhà thầu xây lắp, là hoạt động đáp ứng nhu cầu của ngành xây dựng trong cơ chế mới.
Lực lượng tư vấn tích cực tham gia giúp chủ đầu tư trong các dự án từ khâu đầu đến khâu cuối, từ khâu lập dự án đến khảo sát, thiết kế các công trình cho đến cho đến khâu giám sát nhà thầu thực hiện dự án, mua sắm thiết bị công nghệ, nghiệm thu bàn giao đưa công trình vào sử dụng. Tư vấn xây dựng là đơn vị giúp chủ đầu tư về mặt chuyên môn, sản phẩm của tư vấn là yêu cầu của chủ đầu tư về công trình được diễn giải ra giấy, phần mềm, là “phiên dịch” ngôn ngữ chuyên môn giữa chủ đầu tư và đơn vị xây lắp. Bên cạnh tư vấn cho chủ đầu tư về chuyên môn thì tư vấn cũng có vai trò trong việc thay chủ đầu tư quản lý chi phí thực hiện dự án hiệu quả nhất qua sự giám sát chặt chẽ của mình. Lực lượng tư vấn xây dựng có mặt ở hầu hết các công trình quan trọng của quốc gia, các bộ ngành và địa phương giúp nền kinh tế của đất nước ngày càng phát triển rộng lớn trong bối cảnh nền kinh tế đang từng bước hội nhập hiện nay.
Quá trình hình thành và phát triển của ngành tư vấn xây dựng Việt Nam 1. Giai đoạn 1954 – 1986 Giai đoạn này nền kinh tế Việt Nam theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung với vốn đầu tư gần như duy nhất là của Nhà nước. Thời kỳ này, hoạt động xây dựng chỉ 3 gồm hai công đoạn chính là khảo sát - thiết kế và thi công xây lắp. Để xây dựng một công trình chủ đầu tư chọn một tổ chức thiết kế (là viện hay xí nghiệp thiết kế) để ký hợp đồng thiết kế và sau khi có bản thiết kế sẽ tự thi công hay chọn một tổ chức thi công để ký hợp đồng thi công.
Có nghĩa là trong giai đoạn này chỉ có hai phương thức tự làm hoặc thuê một đơn vị đủ năng lực hoạt động xây dựng thực hiện, các thuật ngữ “đấu thầu”, “nhà thầu” “tư vấn xây dựng” cũng như “kỹ sư xây dựng” chưa xuất hiện. Giai đoạn sau năm 1986 Từ năm 1986, Việt Nam đã từng bước bắt đầu công cuộc đổi mới và mở cửa về kinh tế nhưng trong ngành xây dựng thì quá trình đổi mới này thực sự diễn ra vào năm 1990. Với việc ban hành “Điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng” và “Quy chế đấu thầu” hoạt động đầu tư xây dựng ở nước ta đã được đổi mới và dần dần hội nhập với thông lệ quốc tế. Trong xây dựng đã hình thành rõ vai trò và trách nhiệm của ba chủ thể chính là chủ công trình, nhà tư vấn xây dựng và nhà thầu xây dựng.
Chủ đầu tư chịu trách nhiệm toàn bộ về chất lượng công trình với việc sử dụng các dịch vụ tư vấn. Việc giao thầu mọi công việc tư vấn, mua sắm, thi công về nguyên tắc đều thông qua đấu thầu. Tài liệu đấu thầu (Hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu.)- sau này sẽ là tài liệu hợp đồng giao nhận thầu được chủ đầu tư hoặc tổ chức tư vấn soạn thảo chi tiết và công phu. Công đoạn khảo sát - thiết kế được mở rộng thành tư vấn với nhiều hoạt động mới xuyên suốt quá trình lập, triển khai dự án như lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, khả thi, các bản vẽ, bản dự toán, báo cáo kết quả thẩm định, đánh giá khối lượng… Các kỹ sư thiết kế nay trở thành kỹ sư tư vấn và họ phải học hỏi và tìm hiểu các vấn đề về tiêu chuẩn tư vấn nước ngoài.
Vào năm 1995, Hiệp hội tư vấn xây dựng Việt Nam (Vecas), một tổ chức phi Chính phủ của các doanh nghiệp tư vấn ra đời, góp phần thúc đẩy tư vấn xây dựng Việt Nam phát triển theo kịp trình độ ở khu vực và thế giới. Hiệp hội đã trở thành hội viên chính thức của Hiệp hội quốc tế các Kỹ sư tư vấn FIDIC từ 9/1997. 4 Hiệp hội được lập ra với mục đích phát triển lĩnh vực tư vấn xây dựng trong nước; Bảo vệ quyền lợi chính đáng của các thành viên hành nghề tư vấn xây dựng, nâng cao uy tín đạo đức nghề nghiệp và cạnh tranh lành mạnh theo khuôn khổ pháp luật; Xúc tiến việc trao đổi nghề nghiệp, kinh nghiệm quản lý, kinh doanh và các thông tin Kinh tế - Kỹ thuật - Công nghệ cần thiết giữa các thành viên và với tổ chức tư vấn nước ngoài trong khu vực và thế giới. Hiện nay, Hiệp hội Tư vấn Xây dựng Việt Nam đã có gần 350 Hội viên là các Công ty, Tổng Công ty, Viện, Trung tâm, Trường Đại học… hoạt động trong lĩnh vực tư vấn xây dựng.
Tuy nhiên Hiệp hội hoạt động vẫn còn mang tính hình thức, chưa thực sự hiệu quả và sâu rộng, chưa có những tác động tích cực đến việc nâng cao hiệu quả của công tác tư vấn Việt Nam. Nhìn tổng thể các dịch vụ tư vấn xây dựng tại Việt Nam ngày càng đa dạng và có xu hướng tiệm cận đối với bối cảnh quốc tế. Tuy nhiên, đó là chỉ xét trên khía cạnh hình thức, danh mục công việc, về nội dung và chất lượng của các dịch vụ này còn có nhiều điều đáng quan tâm. Các loại hình Dịch vụ tư vấn xây dựng tại Việt Nam Trong những năm của nền kinh tế bao cấp, khái niệm về dịch vụ tư vấn hầu như chỉ gói gọn trong công tác thiết kế và khảo sát.
Điều này cũng phù hợp với cơ chế quản lý và chỉ đạo tập trung của nền kinh tế lúc bấy giờ. Những năm gần đây, cùng với việc chuyển đổi sang cơ chế thị trường, nhu cầu về hội nhập và mở cửa cùng với sự thâm nhập của các công ty tư vấn, nhà thầu quốc tế cũng đặt ra những yêu cầu và phương thức mới trong việc thực hiện các dự án đầu tư và xây dựng. Trong bối cảnh như vậy, các loại hình về dịch vụ tư vấn đã dần được phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu tư vấn kỹ thuật, kinh tế, pháp lý của chủ đầu tư và của các cơ quan quản lý xây dựng thể hiện trong các số liệu điều tra dưới đây: 5 Tỷ lệ (%) các tổ chức Tên dịch vụ tư vấn thiết kế xây dựng tư vấn cung cấp Tư vấn chuẩn bị dự án: Lập quy hoạch tổng thể, sơ đồ phát triển 82.61% Lập báo cáo đầu tư, dự án đầu tư 78.26% Tư vấn thực hiện dự án: Khảo sát địa kỹ thuật 86.96% Lập thiết kế, tổng dự toán và dự toán 95.65% Thẩm tra thiết kế và tổng dự toán, dự toán 78.26% Lập hồ sơ mời thầu, phân tích đánh giá hồ sơ dự thầu 95.65% Giám sát thi công xây dựng và thiết bị 91.3% Tư vấn khác: Quản lý dự án 47.83% Điều hành thực hiện dự án 43.48% Đào tạo và chuyển giao công nghệ 34.78% Hoạt động của các tổ chức tư vấn chủ yếu là các dịch vụ "truyền thống" như công tác khảo sát, thiết kế, lập dự toán… Những công việc này hiện vẫn là thế mạnh và thường được thực hiện tốt. Tuy nhiên, trong số những hạng mục nói trên có những nội dung đòi hỏi nhà tư vấn phải mở rộng hiểu biết, cập nhận kiến thức mới đạt yêu cầu.