phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Khái quảt về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty CP Nông lâm nghiệp Bình Dƣơng. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty CP Nông lâm nghiệp Bình Dƣơng. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Khái niệm năn lực cạnh tranh của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh, khả năng cạnh tranh hay sức cạnh tranh là những thuật ngữ có cùng nội dung. Thuật ngữ này có liên quan mật thiết với cạnh tranh và ngày càng đƣợc sử dụng rộng rãi nhƣng đến nay vẫn là một khái niệm còn nhiều tranh cãi giữa các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh tế, các nhà nghiên cứu ở nhiều nƣớc. [3] Khái niệm năng lực cạnh tranh đƣợc đề cập đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm 1980. Theo Aldington Report (1985): "Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lƣợng vƣợt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ cạnh tranh trong nƣớc và quốc tế.
Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt đƣợc lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng bảo đảm thu nhập cho ngƣời lao động và chủ doanh nghiệp". Định nghĩa này cũng đƣợc nhắc lại trong Sách trắng về năng lực cạnh tranh của nƣớc Anh (1994). Năm 1998, Bộ Thƣơng mại và Công nghiệp (Anh) đƣa ra định nghĩa: "Đối với doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả và vào đúng thời điểm. Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất và hiệu quả hơn các doanh nghiệp khác".
Tuy nhiên, khái niệm năng lực cạnh tranh đến nay vẫn chƣa đƣợc hiểu một cách thống nhất, tác giả xin trích dẫn một số khái niệm chủ yếu đề cập dƣới góc độ năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhằm làm rõ hơn về vấn đề này. - Tổ chức Hợp tác và và Phát triển Kinh tế (OECD) định nghĩa năng lực cạnh tranh là “Khả năng của các công ty, các ngành, các vùng, các quốc gia hoặc khu vực siêu quốc gia trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế trên cơ sở bền vững”.[3] - Trên góc độ tổng quát lấy con ngƣời làm trung tâm, khái niệm năng lực cạnh tranh đƣợc Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) quan niệm: “Đối với doanh nghiệp, khả năng cạnh tranh có nghĩa là tạo ra những lựa chọn tăng trƣởng mới, 7 mang lại giá trị cho các cổ đông. Đối với xã hội, nâng cao khả năng cạnh tranh là tạo ra việc làm mới và điều kiện sống tốt hơn”.[3] - Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì, mở rộng thị phần và đạt lợi nhuận cao của doanh nghiệp. Đây là quan niệm khá phổ biến hiện nay, theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với đối thủ và khả năng “thu lợi” của các DN (Porter 1985, 1998); - Năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh.
Theo Porter (1985,1998, tr.10) thì năng lực cạnh tranh là “để có thể cạnh tranh thành công các doanh nghiệp phải có đƣợc lợi thế cạnh tranh dƣới hình thức hoặc là có đƣợc chi phí sản xuất thấp hơn hoặc là có khả năng khác biệt hóa sản phẩm để đạt đƣợc những mức giá cao hơn trung bình. Để duy trì lợi thế cạnh tranh, các doanh nghiệp cần ngày càng đạt đƣợc những lợi thế canh tranh tinh vi hơn, qua đó có thể cung cấp những hàng hóa có chất lƣợng cao hơn hoặc sản xuất có hiệu quả hơn”. Quan điểm của Porter (1985, 1998) không chỉ đề cập đến vấn đề năng lực cạnh tranh mà còn bao hàm cả việc doanh nghiệp phải liên tục duy trì lợi thế cạnh tranh của mình. Nói cách khác, DN phải liên tục duy trì mức lợi nhuận trên cơ sở bám sát với nhịp độ phát triển của thị trƣờng.
Việc hạ thấp giá thành sản phẩm để nâng cao năng lực cạnh tranh theo quan niệm mang tính dài hạn này của Porter cũng nhƣ đại đa số các nhà nghiên cứu khác không bao gồm việc hạ thấp giá thành bằng những biện pháp có tính tiêu cực nhƣ cắt giảm lƣơng nhân viên, cắt giảm chí phí bảo hộ lao động, cắt giảm chi phí phúc lợi, chi phí môi trƣờng,. Năng lực cạnh tranh phải gắn liền với khái niệm phát triển bền vững, sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội. Một số tác giả trong nƣớc dựa trên quan điểm của Porter (1985,1998) để đƣa ra định nghĩa trong nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của mình nhƣ: Nguyễn Minh Tuấn (2010) cho rằng, năng lực cạnh tranh của DN là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lƣới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và đảm bảo sự phát triển kinh tế bền vững. Vũ Trọng Lâm (2006) cho rằng, năng lực cạnh tranh 8 của DN là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của DN.
Lê Công Hoa & Lê Chí Công (2006) thì năng lực cạnh tranh của DN là thể hiện thực lực và lợi thế của DN so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn.[3] - Năng lực cạnh tranh của DN dựa trên khả năng kết hợp các nguồn lực của DN tạo ra lợi thế cạnh tranh của DN. Theo Sanchez & Heene (1996, 2014), năng lực cạnh tranh của một công ty là khả năng duy trì, triển khai, phối hợp các nguồn lực và khả năng theo cách giúp công ty đạt đƣợc mục tiêu của nó. Nhƣ vậy, năng lực cạnh tranh của DN là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, năng suất và chất lƣợng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững. Nó trƣớc hết phải đƣợc tạo ra từ thực lực của DN.
Các t êu c í xác địn năn lực cạn tran của doan n ệp Cũng nhƣ khái niệm NLCT, việc đo lƣờng và xác định các tiêu chí đo lƣờng NLCT là những vấn đề chƣa đƣợc hiểu một cách thống nhất. Có khá nhiều các nghiên cứu dƣới góc độ lý thuyết để xác định phƣơng pháp đo lƣờng NLCT.[3] Năm 1994, Chaharbaghi và Feurer đƣa ra khung khổ đo lƣờng NLCT của doanh nghiệp, theo đó NLCT phụ thuộc vào đánh giá (giá trị) của khách hàng và ngƣời cung ứng, môi trƣờng cạnh tranh và động cơ thúc đẩy cạnh tranh. Họ phân ra 3 loại giá trị: giá trị của khách hàng, giá trị của những ngƣời cộng tác và khả năng hành động - phản ứng. Theo Wangwe (1995), Biggs và Saturi (1997), chỉ tiêu đo lƣờng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là hiệu quả kỹ thuật và năng suất; theo Cockbum (1997) đó là hiệu quả tài chính theo nghĩa hẹp (lợi nhuận); theo Porter (1990), đó là khả năng duy trì lợi thế cạnh tranh (chi phí thấp và sự khác biệt của sản phẩm); theo Salinger (2001), đó là năng suất lao động và năng lực vốn con ngƣời (Human Capital), … Flanagan (2007) và các cộng sự đã hệ thống hoá các tài liệu nghiên cứu và đo lƣờng năng lực cạnh tranh ở nhiều nƣớc dƣới các giác độ khác nhau: quốc gia, ngành và doanh nghiệp.
9 Theo đó, ở cấp độ doanh nghiệp có hai nhóm chỉ tiêu đo lƣờng năng lực cạnh tranh là: mức thu lãi và năng suất. Trong đó, mức thu lãi đƣợc tính bằng các chỉ số nhƣ: tiền lãi trên doanh số, tiền lãi trên tổng vốn,. còn năng suất đƣợc tính theo năng suất yếu tố (đầu ra trên mỗi yếu tố đầu vào) và năng suất tổng thể (tổng đầu ra trên tổng đầu vào).[3] Kết quả nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của Momaya (2004) đã hệ thống hoá cụ thể hơn các tiêu chí đo lƣờng năng lực cạnh tranh doanh nghiệp theo từng nhóm năng lực nhƣ sau: - Khả năng khai thác, sử dụng tài sản (Assets) gồm các chỉ tiêu liên quan tới: nguồn nhân lực, cơ cấu doanh nghiệp, văn hóa doanh nghiệp, công nghệ. - Năng lực vận hành các quá trình (Processes): quá trình quản lý chiến lƣợc (năng lực quản lí, chiến lƣợc cạnh tranh, khả năng linh hoạt và thích ứng); quá trình sử dụng nguồn nhân lực (tài năng thiết kế và cải tiến); các quá trình công nghệ (đổi mới, các hệ thống công nghệ, công nghệ thông tin; các quá trình tác nghiệp (sản xuất, chất lƣợng.); các quá trình marketing (marketing, quản lý các mối quan hệ, năng lực thuyết phục.
- Năng lực cạnh tranh hoạt động, gồm các chỉ tiêu: năng suất, thị phần tài chính, sự khác biệt, mức sinh lời, giá cả, chi phí, sự đa dạng sản phẩm, hiệu quả, tạo ra giá trị, đáp ứng nhu cầu khách hàng phát triển sản phẩm mới. - Trong các mô hình phân tích và đo lƣờng năng lực cạnh tranh nêu trên, đối với cấp độ doanh nghiệp, đáng chú ý là mô hình Assets - Process - Performance (APP) của Bekley cùng các cộng sự (1988). Theo đó, năng lực cạnh tranh và đo lƣờng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn với 3 nhóm yếu tố: khả năng hoạt động, khả năng tạo đầu ra của tài sản và quá trình quản lý. Theo các nhà nghiên cứu này, cả ba nhóm yếu tố này cần đƣợc phối hợp để bảo đảm cạnh tranh bền vững cho quốc gia, ngành và từng doanh nghiệp.
Mô hình này đƣợc các tổ chức thế giới nhƣ Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) và Viện phát triển quản lý (IMD) áp dụng để tính toán và xác định năng lực cạnh tranh với công thức: 10 Tài sản (tiềm năng) x Quá trình = Hoạt động thực tế ( Assets ) ( Processes ) ( Performance ) Nghiên cứu các tiêu chí đo lƣờng NLCT của DN, theo quan điểm của luận văn các tiêu chí đo lƣờng NLCT của DN phải thể hiện đƣợc bản chất của NLCT của doanh nghiệp, thể hiện đƣợc mức độ cạnh tranh của các doanh nghiệp trong việc chiếm lĩnh thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm đầu ra, thu hút yếu tố đầu vào. Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế thị trƣờng hiện đại, NLCT cần bảo dảm tính bền vững, tức là phải tính đến cả mức độ sử dụng các điều kiện để duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cả trong ngắn hạn và dài hạn. Theo đó, các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm: 1.