CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP. Khái niệm về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh của Doanh nghiệp 1. Khái niệm về cạnh tranh Hiện nay, có rất nhiều khái niệm khác nhau về cạnh tranh trong lĩnh vực kinh tế và xã hội và rất khó để thống nhất thành một khái niệm cụ thể. Nó phụ thuộc rất nhiều vào mục tiêu được ra và góc độ xem xét của từng Doanh nghiệp, từng quốc gia, từng giai đoạn cụ thể.
Trong khi mỗi Doanh nghiệp thì mục tiêu quan trọng nhất là tối đa hóa lợi nhuận, thì các Quốc gia lại đặt mục tiêu đáp ứng những thử thách của thị trường quốc tế và nâng cao mức sống cho người dân. Theo Từ điển bách khoa của Việt Nam (1995, tập 1), cạnh tranh được định nghĩa là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh bị chi phối bởi quan hệ cung cầu, nhằm giành được các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất. Theo hai nhà kinh tế Mỹ là PA Samuelson & W. Nordhaus (1989), thì cạnh tranh là sự kình định giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng hoặc thị trường.
Ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới thừa nhận cạnh tranh và coi cạnh tranh là một trong những đặc điểm cơ bản và là động lực của sự phát triển. Theo từ điển kinh tế thì cạnh tranh được hiều là quá trình ganh đua hoặc tranh giành giữa ít nhất hai đối thủ nhằm có được cho mình những nguồn lực hoặc lợi thế về sản phẩm hoặc khách hàng, hoặc đạt được những lợi ích tối đa. Trong hoạt động kinh tế, đó là sự ganh đua giữa các chủ thế kinh tế nhằm giành lấy những vị thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa để thu được cho mình nhiều lợi ích nhất. Theo Michael Porter (1985, trang 31) thì: “Cạnh tranh (kinh tế) là giành lấy thị phần.
Bản chất của canh trạnh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh trạnh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi”. Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD, 2013) đã định nghĩa về năng lực cạnh tranh cho cả Doanh nghiệp, ngành và quốc gia như sau: “Năng lực cạnh tranh là khả năng của các Doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. Ở góc độ Thương mại - Dịch vụ, cạnh tranh là một trận chiến giữa các Doanh nghiệp và các ngành kinh doanh nhằm chiếm được sự chấp nhận và lòng trung thành của khách hàng.
Như vậy, khái niệm cạnh tranh có thể hiểu là quan hệ kinh tế mà ở đó xảy ra cuộc đấu tranh sinh tồn, sự ganh đua gay gắt, quyết liệt giữa các chủ thể tham gia kinh doanh trên thị trường đề giành giật những điều kiện kinh doanh thuận lợi nhất, điều kiện sản xuất và thị trường nhằm đem lại cho mình nhiều lợi ích nhất. Các Doanh nghiệp buộc phải chấp nhận cạnh tranh như là sự sống còn của Doanh nghiệp và không ngừng phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh nội tại của Doanh nghiệp. Kết quả cạnh tranh sẽ loại bỏ các Doanh nghiệp yếu kém và nâng cao vị thế của các Doanh nghiệp giành thắng lợi. Các quan điểm về cạnh tranh Theo Michael Porter (1980), có nhiều tiêu thức phân loại cạnh tranh, trong đó cách phân loại cơ bản là: cạnh tranh trong phạm vi ngành kinh tế bao gồm cạnh tranh nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành, cạnh tranh giữa bên mua và cạnh tranh giữa bên bán, cạnh tranh giá cả và cạnh tranh phi giá cả,… 1.
Căn cứ vào chủ thể tham gia Cạnh tranh giữa người mua và người bán: Hình thức cạnh tranh này luôn xảy ra trong các hoạt động kinh tế. Sự cạnh tranh này diễn ra theo quy luật “mua TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 rẻ, bán đắt” và giá cả hàng hóa được hình thành. Theo đó, người mua luôn tìm mọi cách để mua được sản phẩm và dịch vụ tại mức giá thấp nhất với chất lượng, số lượng chủng loại và điều kiện giao hàng thuận lợi nhất trong khi người bán lại mong muốn ngược lại. (Porter,1980) Cạnh tranh giữa những người mua với nhau: Người mua ở đây không chỉ là người tiêu dùng mà còn bao gồm cả các nhà sản xuất.
Theo hình thức này, những người mua, Doanh nghiệp sẽ đấu tranh để có thể tiếp cận được nguồn hàng ổn định về số lượng và chất lượng với mức giá thấp nhất. Sự cạnh tranh này hình thành trên quan hệ cung – cầu và sẽ tăng cao khi cầu lớn hơn cung. (Porter,1980) Cạnh tranh giữa người bán với nhau: Đây có lẽ là hình thức tồn tại nhiều nhất trên thị trường với tính chất gay go và khốc liệt nhất. Sự cạnh tranh này có ý nghĩa sống còn đối với Doanh nghiệp nhằm chiếm thị phần và thu hút khách hàng.
Theo hình thức này, các nhà sản xuất đấu tranh với nhau để giành chỗ đứng trên thị trường (thị phần, kênh phân phối…) để có thể đạt được các mục tiên ngắn hạn của mình và qua đó đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững. Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế Cạnh tranh trong nội bộ ngành: đây là hình thức cạnh tranh giữa các Doanh nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất, tiêu thụ một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó. Các Doanh nghiệp liên tục cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất xuất lao động, giảm chi phí nhằm mục đích tối ưu hóa lợi nhuận. (Porter,1980) Cạnh tranh giữa các ngành: là sự cạnh tranh giữa các Doanh nghiệp khác nhau trong nền kinh tế nhằm tìm kiếm mức sinh lợi cao nhất, sự cạnh tranh này hình thành nên tỷ suất sinh lời bình quân cho tất cả mọi ngành thông qua sự dịch chuyển của các ngành với nhau.
Căn cứ theo tính chất và mức độ cạnh tranh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 Cạnh tranh hoàn hảo: Là hình thức cạnh tranh mà trong đó người bán và người mua không có ảnh hưởng lên giá thị trường, giá cả thị trường là do quan hệ cung cầu trên thị trường quyết định. Các sản phẩm bán ra có tính chất đồng nhất cao. Điều kiện tham gia hay rút lui khỏi thị trường rất dễ dàng. Hình thức cạnh tranh hoàn hảo khó tìm thấy hiện nay.
(Porter,1980) Cạnh tranh không hoàn hảo: Sức mạnh thị trường thuộc về một số doanh nghiệp sản xuất kinh doanh lớn. Các doanh nghiệp trên thị trường này kinh doanh những loại những loại hàng hóa, dịch vụ khác nhau. Sự khác biệt giữa những loại hàng hóa, dịch vụ này thể hiện ở nhãn hiệu hàng hóa. Có những loại hàng hóa, dịch vụ chất lượng như nhau song sự lựa chọn cho người tiêu dùng lại căn cứ vào uy tín, nhãn hiệu sản phẩm.
Hình thức cạnh tranh không hoàn hảo đó là hình thức cạnh tranh mang tính độc quyền. Năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp 1. Năng lực cạnh tranh Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh là năng lực của một Doanh nghiệp hoặc một ngành, một quốc gia không bị Doanh nghiệp khách, ngành khác hoặc nước khác đánh bại về năng lực kinh tế. (Đinh Văn Ân, 2014) Năng lực cạnh tranh được chia làm bốn cấp độ: cấp độ quốc gia, cấp độ ngành, cấp độ Doanh nghiệp và cấp độ năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa.
Giữa chúng có mối tương quan mật thiết với nhau, phụ thuộc lẫn nhau. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bị hạn chế khi năng lực cạnh tranh cấp quốc gia và của sản phẩm doanh nghiệp đó đều thấp. Do đó, trước khi đề cập đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, chúng ta cần đề cập sơ lược đến năng lực cạnh tranh quốc gia và của ngành. (Đinh Văn Ân, 2014) Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia: Đứng ở góc độ vĩ mô, năng lực cạnh tranh của một quốc gia là khả năng nền kinh tế quốc dân đạt được và duy trì mức TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 17 tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác, theo Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) (1997).
Năng lực cạnh tranh cấp ngành: Theo diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp (HLFIC) của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD (2013), năng lực cạnh tranh của ngành là khả năng của ngành trong việc tạo ra thư nhập cao hơn và sử dụng lao động cao hơn, trong khi vẫn phải đối mặt với cạnh tranh quốc tế. Năng lực kinh doanh của ngành còn thể hiện ở thị phần, cơ cấu và năng lực cạnh tranh nội bộ ngành, các ngành công nghiệp phụ trợ và sự kết hợp các yếu tố đó với nhau. Năng lực cạnh tranh cấp độ Doanh nghiệp: Là khả năng đưa ra các chiến lược kinh doanh thích hợp và hiệu quả kinh doanh, duy trì và tăng trưởng sáng tạo các lợi thế cạnh tranh của Doanh nghiệp nhằm đáp ứng các nhu cầu của khách hàng so với các đối thủ canh tranh trong và ngoài nước. (Porter,1980) Trong phạm vi và giới hạn đề tài, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về năng lực cạnh tranh cấp độ Doanh nghiệp 1.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao hơn và phát triển bền vừng. (Porter,1980) Năng lực cạnh tranh là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiệu tại và làm nảy sinh thị trường mới. (Porter,1980) Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao. (Porter,1980) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 18 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được xác định dựa vào các ưu thế cạnh tranh của nó.