LỜI MỞ ĐẦU Từ sau đại hội đảng toàn quốc lần thứ VI, nước ta bước sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước, đó là một thách thức mới đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung và đối với hàng ngàn doanh nghiệp của Việt Nam nói riêng. Thực tế cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp gặp phải những khó khăn, đặc biệt là vốn trong kinh doanh. Ngày nay, cùng với sự chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế là quá trình cắt giảm vốn ngân sách cấp , mở rộng quyền tự chủ và quyền giao vốn cho các doanh nghiệp. Do đó , một doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường đòi hỏi doanh nghiệp đó phải biết sử dụng vốn triệt để và không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh mà đặc biệt là vốn lưu động.
Vốn lưu động là bộ phận quan trọng trong vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Xuất phát từ nhận thức và sự ham muốn tìm tòi cùng khát vọng giải quyết vấn đề trên, qua quá trình thực tập tại Công ty tư vấn đầu tư xây dựng& thương mại Thành Phú, được sự tận tình giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn cùng các cô chú phòng Tài chính kế toán công ty , em đã đi sâu vào nghiên cứu đề tài : "MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY TƯ VẤN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG & THƯƠNG MẠI THÀNH PHÚ. Nguyễn Văn Minh 6 MSV: 09A20894N Luận văn tốt nghiệp Trường đại học KD-CN Hà Nội Kết cấu đề tài gồm 3 phần: Phần 1 : Tổng quan về vốn lưu động và hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại các doanh nghiệp. Phần 2 : Thực trạng quản lý và sử dụng vốn lưu động tại công ty tư vấn đầu tư xây dựng & thương mại Thành Phú trong thời gian 2010-2012 Phần 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty tư vấn đầu tư xây dựng & thương mại Thành Phú.
Nguyễn Văn Minh 7 MSV: 09A20894N Luận văn tốt nghiệp Trường đại học KD-CN Hà Nội PHẦN 1 TỔNG QUAN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP 1.1: MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ VLD TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm và đặc điểm của VLD: 1.1 Khái niệm về VLD: Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ngoài tư liệu lao động thì doanh nghiệp cần phải có đối tượng lao động và trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì đối tượng lao động được biểu hiện dưới hình thức cụ thể là tài sản lưu động. Trong doanh nghiệp người ta chia tài sản lưu động thành hai bộ phận: Tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động trong lưu thông. Tài sản lưu động trong sản xuất bao gồm: Các vật tư dự trữ của doanh nghiệp để đảm bảo cho quá trình hoạt động kinh doanh được tiến hành một cách thường xuyên liên tục như nguyên vật liệu,công cụ dụng cụ…và những sản phẩm dở dang trong quá trình sản xuất. Tài sản lưu động trong lưu thông bao gồm: Sản phẩm, thành phẩm chờ tiêu thụ, vốn bằng tiền và vốn trong thanh toán.
Để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra một cách liên tục đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng ra một lượng vốn , đó là vốn lưu động của doanh nghiệp. Như vậy :Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên , liên tục. Vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị của Nguyễn Văn Minh 8 MSV: 09A20894N Luận văn tốt nghiệp Trường đại học KD-CN Hà Nội chúng vào lưu thông và từ lưu thông giá trị của tài sản lưu động được hoàn lại một lần sau một chu kỳ kinh doanh.2 Đặc điểm về VLD: Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh thì vốn lưu động không ngừng vận động và thay đổi hình thái biểu hiện. Từ hình thái vốn bằng tiền sang các hình thái khác nhau và khi kết thúc quá trình tiêu thụ sản phẩm thì vốn lưu động lại trở lại hình thái ban đầu là vốn tiền tệ.
Sự vận động của vốn lưu động như vậy được gọi là sự tuần hoàn vốn. Do quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một cách thường xuyên, liên tục cho nên sự tuần hoàn của vốn lưu động cũng diễn ra lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ tạo ra sự chu chuyển của vốn lưu động. Vốn lưu động trong doanh nghiệp sản xuất tham gia vào tất cả các giai đoạn của một chu kỳ sản xuất kinh doanh , được khái quát bằng sơ đồ sau: Mua vật tư Sản xuất sp Vốn bằng tiền Vốn dự trữ sản xuất Vốn trong khâu sản xuất Hàng hoá dự trữ Sự biến đổi qua các giai đoạn đó gọi là sự tuần hoàn của vốn lưu động. Sự tuần hoàn liên tục không ngừng của vốn lưu động tạo thành một vòng tuần hoàn được gọi là Vòng chu chuyển của vốn lưu động.
Nguyễn Văn Minh 9 MSV: 09A20894N Luận văn tốt nghiệp Trường đại học KD-CN Hà Nội Như vậy, vốn lưu động luôn vận động nên kết cấu của vốn lưu động luôn biến đổi và phản ánh sự vận động không ngừng của hoạt động sản xuất kinh doanh.2: Phân loại vốn lưu động trong doanh nghiệp: 1.1 Phân loại theo hình thái biểu hiện: Theo cách phân loại này vốn lưu động có thể chia thành: Vốn bằng tiền và các khoản phải thu : Các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển được biểu hiện dưới hình thái giá trị. Như vậy, trong hoạt động sản xuất kinh doanh đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có một lượng tiền nhất định. Các khoản phải thu: Chủ yếu là các khoản thu từ khách hàng thể hiện số tiền mà khách hàng nợ doanh nghiệp phát sinh trong quá trình bán hàng hoá, dịch vụ dưới hình thức bán trước trả sau. Ngoài ra trong một số truờng hợp mua sắm vật tư, doanh nghiệp còn phải ứng trước tiền cho nhà cung cấp từ đó hình thành các khoản tạm ứng.
Vốn vật tư hàng hoá : Là các khoản vốn lưu động có hình thái biểu hiện bằng hiện vật cụ thể như: hàng hoá, nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm dở dang. Việc phân chia vốn lưu động theo hình thái biểu hiện nói lên sự vận động của tài sản lưu động và vốn lưu động có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.2 Phân loại theo vai trò của vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh: Theo cách phân loại này , vốn lưu động được chia thành 3 loại cụ thể: Nguyễn Văn Minh 10 MSV: 09A20894N Luận văn tốt nghiệp Trường đại học KD-CN Hà Nội Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất bao gồm: Giá trị các khoản nguyên vật liệu chính , nguyên vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ. Vốn lưu động trong khâu sản xuất bao gồm: Các khoản giá trị sản phẩm dở dang, bán thành phẩm và các khoản vốn về chi phí trả trước. Vốn lưu động trong khâu lưu thông bao gồm: Giá trị các khoản vốn thành phẩm, vốn bằng tiền, các khoản đầu tư ngắn hạn, các khoản vốn trong thanh toán.
Cách phân loại này cho thấy tỷ trọng , vai trò của vốn lưu động trong từng khâu của quá trình sản xuất từ đó có biện pháp , kế hoạch mua sắm , dự trữ vật tư, tiền vốn đảm bảo sự cân đối , ăn khớp giữa các khâu của qúa trình sản xuất kinh doanh, duy trì sự liên tục của hoạt động sản xuất kinh doanh , tránh tình trạng vốn lưu động phân phối không đều , không hợp lý gây ra tình trạng ngừng trệ, gián đoạn trong hoạt động sản xuất làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.3: Bảo toàn vốn lưu động của doanh nghiệp 1.1: Khái niệm về bảo toàn vốn lưu động Bảo toàn vốn lưu động trong các doanh nghiệp là đảm bảo số vốn lưu động thu hồi sau mỗi chu kỳ kinh doanh đủ để doanh nghiệp tiếp tục sản xuất kinh doanh trong kỳ tiếp theo đồng thời có thể bổ sung thêm cho nguồn vốn của doanh nghiệp hoặc đầu tư thêm các trang thiết bị, máy móc… phục vụ sản xuất. Những lý do đòi hỏi doanh nghiệp phải chủ động bảo toàn vốn lưu động, nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất tiến hành bình thường là: Sự rủi ro bất thường trong quá trình sản xuất kinh doanh Nền kinh tế lạm phát nên VLD của DN mất dần theo tốc độ trượt giá Hàng hóa bị ứ đọng, không bán được phải bán hạ giá Kinh doanh bị lỗ kéo dài nên sau 1 thời gian nhất định vốn bị thiếu hụt Nguyễn Văn Minh 11 MSV: 09A20894N Luận văn tốt nghiệp Trường đại học KD-CN Hà Nội VLD bị DN khác chiếm dụng với số lượng lớn trong khi đồng tiền thì ngày càng mất giá 1.2: Nguyên tắc bảo toàn VLD Định kỳ tiến hành kiểm kê để xác định số VLD hiện có của DN theo giá trị hiện tại. Chủ động giải quyết những vật tư hàng hóa tồn đọng lâu ngày, xử lý kịp thời bù đắp lại phần chênh lệch giá. Đôn đốc và gải quyết tích cực thu hồi vốn bị các DN khác chiếm dụng và đưa ngay vốn đó vào sản xuất kinh doanh.
Phải lựa chọn cân nhắc để đầu tư VLD vào khâu nào, vào lúc nào để có lợi và tiết kiệm nhất.3: Sử dụng quỹ bảo toàn VLD: Đẩy mạnh công tác bán ra: làm tốt công tác tiếp thị, nghiên cứu thị trường và phục vụ tốt nhu cầu ngươi tiêu dùng. Tăng cường công tác quản lý VLD: rút ngắn thời gian ở mỗi khâu mà VLD đi qua, xác định đúng đắn mức dự trữ hàng hóa, tìm kiếm kênh cung ứng và phân phối hợp lý, thuận tiện nhất nhằm giảm thời gian vận chuyển và giảm lượng hàng hóa dự trữ trong kho. Tổ chức lao động và bộ máy cơ quan hợp lý, hệ thống kho tang , cấp phát, phát hiện hàng hóa chậm luân chuyển, tìm biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ. Chấp hành nghiêm chỉnh chế độ quản lý tiền mặt, chế độ thanh toán nhanh chóng, giải quyết công tác nợ dây dưa để thu hồi vốn kịp thời.
Nếu chiếm dụng vốn của DN khác mà không tốt thì mất tín nhiệm, mất bạn hàng. Nếu bị người khác chiếm dụng vốn thì không có vốn KD, thiếu vốn.2: HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VLD VÀ MỘT SỐ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VLD TRONG CÁC DOANH NGHIỆP. Nguyễn Văn Minh 12 MSV: 09A20894N Luận văn tốt nghiệp Trường đại học KD-CN Hà Nội 1.