Chương 1: Tổng quan về Doanh nghiệp và cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp. Chương 2: Phân tích đánh giá thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên Xe Khách Sài Gòn. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên Xe Khách Sài Gòn. 9 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SXKD CỦA DOANH NGHIỆP.
TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về Doanh nghiệp Doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế độc lập, một tập hợp gồm những bộ phận gắn bó với nhau, có vốn và các phương tiện vật chất kỹ thuật, hoạt động theo những nguyên tắc và mục tiêu thống nhất. Thực hiện hạch toán kinh doanh hoàn chỉnh, có nghĩa vụ và được hệ thống pháp luật thừa nhận cũng như bảo vệ. Doanh nghiệp là một trong các chủ thể kinh doanh chủ yếu của nền kinh tế có quy mô và vai trò to lớn so với việc kinh doanh của các cá nhân.
Doanh nghiệp là nơi tập hợp các tài năng, các điều kiện vật chất nhất định để sản xuất sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó phục vụ con người. Về phương diện luật pháp (Luật Doanh nghiệp năm 2011) thì Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Dù là ở dạng nào, Doanh nghiệp trước hết phải là nơi sản xuất. Tại đây, các nguồn nhân lực, kỹ thuật, tài chính, vật tư được kết hợp chặt chẽ với nhau để sản xuất ra của cải vật chất hoặc dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của con người.
Chức năng và vai trò của Doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, chức năng của Doanh nghiệp vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị phân phối. Với chức năng là một đơn vị sản xuất, Doanh nghiệp sản xuất ra của cải vật chất hoặc thực hiện dịch vụ cung cấpcho nhu cầu của thị trường nhằm tạo ra lợi nhuận. Thực hiện chức năng là đơn vị sản xuất, Doanh nghiệp xuất hiện trên thị trường với tư cách là một chủ thể sản xuất kinh doanh, tiến hành các quá trình hoạt động và xác lập những mối quan hệ cần thiết cho việc đạt được mục tiêu đề ra. 10 Với chức năng là một đơn vị phân phối, Doanh nghiệp bán ra thị trường thành quả sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ, đổi lại Doanh nghiệp sẽ thu về tiền hoặc các hình thức thanh toán khác của khách hàng.
Về phía Doanh nghiệp, Doanh nghiệp cũng phải thanh toán các khoản phí, đóng thuế, trả lương… thực hiện chức năng phân phối. Doanh nghiệp phân phối hợp lý thành quả nhằm tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, đồng thời đảm bảo sự công bằng của xã hội. Vai trò của Doanh nghiệp gồm: a. Doanh nghiệp là một chủ thể sản xuất hàng hóa: Trong cơ chế của nền kinh tế thị trường, Doanh nghiệp không còn là một cấp quản lý chỉ biết chấp hành và sản xuất theo lệnh của cấp trên mà là một chủ thể sản xuất hàng hóa trong khuôn khổ pháp luật, có quyền quyết định và chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Doanh nghiệp là một pháp nhân kinh tế bình đẳng trước pháp luật: Trước pháp luật, Doanh nghiệp được xem là một chủ thể có đầy đủ tư cách pháp nhân riêng biệt với các chủ sở hữu của Doanh nghiệp. Và mọi Doanh nghiệp, dù là Doanh nghiệp Nhà nước hay Doanh nghiệp tư nhân, là Công ty trách nhiệm hữu hạn hay Công ty cổ phần… đều được đối xử như nhau. Nhà nước luôn tạo điều kiện để các Doanh nghiệp hoạt động và phát triển bằng các Bộ luật được Quốc hội thông qua. Doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế, là tế bào của nền kinh tế quốc dân: Nền kinh tế quốc dân là một tổng thể thống nhất mà mỗi Doanh nghiệp là một tế bào, một mắt xích.
Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước tạo ra môi trường thuận lợi để các Doanh nghiệp tự do kinh doanh trong khuôn khổ của một hệ thống pháp luật nhằm đảm bảo cho sự tự do ấy tạo thành sức mạnh kinh tế chung của cả nước. Hoạt động của Doanh nghiệp là hoạt động theo pháp luật và đảm bảo sự thống nhất giữa lợi ích của Doanh nghiệp với lợi ích chung của nền kinh tế quốc dân. Doanh nghiệp là một tổ chức xã hội Doanh nghiệp trước hết là một tập hợp những con người gắn bó với nhau, cùng nhau tiến hành hoạt động kinh doanh nhằm đạt các mục tiêu chung đã quy định. Ngoài việc phải chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, bồi dưỡng và nâng cao trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật và chuyên môn của công nhân viên chức, Doanh nghiệp còn có trách nhiệm làm tốt các vấn đề xã hội như bảo vệ môi trường, giữ gìn an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, làm tròn các nghĩa vụ đối với xã hội.
Làm tốt các vấn đề xã hội cũng là một động lực quan trọng bảo đảm sự phát triển có hiệu quả cao về mặt kinh tế xã hội của Doanh nghiệp trong hiện tại và tương lai. Như vậy, qua những điều phân tích ở trên về chức năng và vai trò của Doanh nghiệp, đã cho thấy vai trò của Doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân là rất quan trọng 1. HIỆU QUẢ SXKD VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ SXKD. Khái niệm và phân loại hiệu quả SXKD.
+ Khái niệm về hiệu quả: hiệu quả (theo từ điển tiếng việt Hoàng Phê, “hiệu quả” có nghĩa là kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại) là đại lượng tương đối phản ánh mối quan hệ so sánh giữa kết quả và chi phí hoặc nguồn lực đã sử dụng. Trong đó: kết quả là đại lượng tuyệt đối phản ánh kết cục một, một số hay tất cả các hoạt động cụ thể diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định. Chi phí chính là các nguồn lực hay là các phương tiện được sử dụng để đạt tới kết quả. Như vậy có thể thấy rằng, thực chất phạm trù hiệu quả phản ánh mối quan hệ giữa mục đích và phương tiện.
Mục đích gắn với kết quả cần đạt được, còn phương tiện gắn với chi phí, nguồn lực phải có để đạt được mục đích. + Khái niệm sản xuất: sản xuất (to make, to produce, to manufacture) là hoạt động có mục đích của con người tác động lên tài nguyên thiên nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất nhằm phục vụ nhu cầu của con người. Trong nền kinh tế 12 xã hội có rất nhiều các lĩnh vực sản xuất như sản xuất lương thực, thực phẩm, sản xuất vật tiêu dùng… + Khái niệm kinh doanh: kinh doanh (business) là việc tổ chức sản xuất buôn bán nhằm mục đích sinh lời. + Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh: hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế, nó phản ánh trình độ sử dụng và năng lực quản lý các yếu tố đầu vào để hoạt động sản xuất kinh doanh đạt được kết quả cao với chi phí thấp nhất.
Tuy nhiên xuất phát từ điều kiện lịch sử khác nhau, góc độ nghiên cứu khác nhau mà có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả. - Quan điểm 1: nhà kinh tế học người Anh – Adam Smith cho rằng: “Hiệu quả sản xuất kinh doanh là kết quả đạt được trong sản xuất kinh doanh, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá”. Cụ thể hơn hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức độ hữu ích của sản phẩm sản xuất ra, tức là giá trị sử dụng của nó, doanh thu hoặc lợi nhuận thu được sau quá trình kinh doanh. Quan điểm này lẫn lộn giữa hiệu quả với kết quả sản xuất kinh doanh, giữa hiệu quả với mục tiêu kinh doanh.
- Quan điểm 2: theo giáo trình hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp – NXB Giáo dục năm 1995 thì “Hiệu quả sản xuất kinh doanh được đo bằng hiệu số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó”. Ưu điểm của quan điểm này là phản ánh được mối quan hệ bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh. Nó gắn được kết quả với toàn bộ chi phí. Tuy nhiên nó không đề cập đến trình độ sử dụng lao động xã hội cũng như sử dụng các nguồn nhân lực để đạt được kết quả kinh tế cao.
- Quan điểm 3: theo giáo trình kinh tế và phân tích hoạt động doanh nghiệp – NXB Thống kê năm 1997 thì “Hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn nhân lực và trình độ chi phí các nguồn lực đó trong quá trình sản xuất nhằm mục tiêu kinh doanh”. Khái niệm này gắn quan niệm hiệu quả với cơ sở lý luận kinh tế của Đảng và Nhà nước ta trong đường 13 lối phát triển kinh tế trong giai đoạn hiện nay. Nền kinh tế quốc gia cần được phát triển theo đồng thời theo cả chiều rộng và chiều sâu. Phát triển kinh tế theo chiều rộng là huy động mọi nguồn lực vào sản xuất, tăng thêm vốn, bổ sung lao động, mở mang ngành nghề, xây dựng thêm nhiều doanh nghiệp trong nhiều lĩnh vực, tạo nhiều sản phẩm mới cho xã hội.
Phát triển kinh tế theo chiều sâu là đẩy mạnh sự phát triển khoa học kỹ thuật tiên tiến lên hiện đại hoá, chú trong chất lượng nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế. Có thể mô tả hiệu quả sản xuất kinh doanh bằng các công thức chung nhất như sau: DH = K - C K I H = ´100(%) C Trong đó: DH : Giá trị tuyệt đối giữa kết quả đầu ra và chi phí đầu vào (đồng). I H : Giá trị tương đối giữa kết quả đầu ra và chi phí đầu vào (%). K: kết quả đầu ra (kết quả đạt được của giá trị sản xuất công nghiệp, doanh nghiệp, lợi nhuận) (đồng).
C: là chi phí đầu vào (hao phí nguồn nhân lực cần thiết gắn với kết quả đó) (đồng). Quan điểm này có khái niệm bao quát hơn cả về hiệu quả sản xuất kinh doanh và thể hiện đúng bản chất của hiệu quả kinh doanh. Phân loại hiệu quả: Hiệu quả là một chỉ tiêu phản ánh mức độ thu lại được kết quả nhằm đạt được một mục đích nào đó tương ứng với một đơn vị nguồn lực phải bỏ ra trong quá trình thực hiện hoạt động nhất định.