CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Xã hội hóa giáo dục - Đa dạng hóa giáo dục. Xã hội hóa giáo dục. Xã hội hóa giáo dục là thực hiện bản chất xã hội của giáo dục. Đó là một hoạt động có tính quy luật, là một yêu cầu khách quan vốn có của sự nghiệp giáo dục.
Nó là một hệ thống các hoạt động của các cá nhân và tổ chức nhằm trả lại chức năng giáo dục của xã hội cho xã hội và trả lại chức năng xã hội của giáo dục cho chính giáo dục. Ý nghĩa phổ biến nhất của xã hội hoá giáo dục là "Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước ".3] - Trước hết, đó là sự phối hợp của liên ngành chức năng trong xã hội tùy theo tính chất và chức năng của mình. Đối với giáo dục - đào tạo, những ngành có sự phối hợp thường xuyên là y tế, thể dục - thể thao, dân số - kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ và chăm sóc trẻ em. Sự phối hợp này không đơn thuần là hành động hỗ trợ nhất thời, mà phải được xác định trong một chương trình dài hạn, được xây dựng trên cơ sở chiến lược con người nói chung và mục tiêu đào tạo của ngành giáo dục nói riêng trên một địa bàn dân cư nhất định.
- Cùng với sự phối hợp liên ngành, xã hội hoá giáo dục còn là một quá trình huy động các lực lượng xã hội tham gia vào các chương trình giáo dục - đào tạo. Sự huy động này sẽ tạo ra được môi trường cần thiết cho công tác giáo dục nói chung và công tác giáo dục ngoài nhà trường nói riêng. Điều đó sẽ làm cho công tác giáo dục gắn với cộng đồng, do cộng đồng thực hiện và vì lợi ích của cộng đồng. - Xã hội hóa giáo dục còn là sự huy động các nguồn đầu tư trong xã hội vào sự nghiệp giáo dục bằng sự vận động các lực lượng kinh tế, các lực lượng xã hội, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ cùng mỗi người dân đóng góp xây dựng nhà trường và các tổ chức khác của ngành GD-ĐT.
- Xã hội hóa giáo dục là cuộc vận động lớn trong xã hội có sự lãnh đạo chặt chẽ của tổ chức Đảng, sự quản lý của Nhà nước và vai trò nòng cốt của ngành giáo dục, xem đó là giải pháp để thực hiện chính sách công bằng xã hội trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước. Công bằng xã hội không chỉ biểu hiện về mặt hưởng thụ, tức là người dân được xã hội và Nhà nước chăm lo, mà còn biểu hiện cả về mặt đóng góp, cống hiến cho xã hội tùy theo khả năng thực tế của từng người dân, từng địa phương. - Xã hội hoá giáo dục là một tư tưởng chiến lược, coi sức mạnh tổng hợp của toàn dân , của xã hội tham gia vào công tác giáo dục là điều kiện tiên quyết để phát triển toàn diện và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ nói riêng và nền giáo dục quốc dân nói chung, nó mang giá trị chỉ đạo quá trình phát triển giáo dục một cách lâu dài. Không nên hiểu xã hội hoá giáo dục như một phương châm hành động khi đất nước còn nghèo, điều kiện đầu tư cho giáo dục còn quá eo hẹp và cũng không có nghĩa là giảm nhẹ trách nhiệm của Nhà nước, giảm bớt phần ngân sách Nhà nước; mà trái lại, Nhà nước thường xuyên tìm thêm các nguồn thu để tăng tỷ lệ ngân sách chi cho các hoạt động giáo dục, đồng thời quản lý tốt để nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn kinh phí đó.
- Xã hội hoá giáo dục là một quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với với sự nghiệp phát triển giáo dục nhằm làm cho hoạt động giáo dục thực sự là sự nghiệp do dân, vì dân, gắn với các quá trình phát triển và tiến bộ xã hội. Trong thực tế, sau gần 15 năm đổi mới, công tác xã hội hoá giáo dục đã đem lại kết quả bước đầu. Các lực lượng xã hội tham gia ngày càng tích cực vào việc huy động trẻ đến trường, xây dựng CSVC của trường học, đầu tư mở trường, đóng góp kinh phí cho giáo dục hình thức khác nhau. Tỷ trọng nguồn kinh phí xã hội đóng góp trong tổng kinh phí giáo dục ngày càng tăng, đạt khoảng 25% vào năm 2000.
Đa dạng hóa giáo dục. Một trong những nội dung của xã hội hoá giáo dục là đa dạng hóa giáo dục. Với mục tiêu cơ bản là đẩy nhanh quá trình "Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài", một trong những giải pháp chủ yếu của đa dạng hóa giáo dục là đa dạng hóa các hình thức học tập, các loại hình trường lớp. Bên cạnh việc củng cố các trường công, chuyển một số trường công sang bán công, khuyến khích mở trường dân lập, cho phép mở trường tư thục.
Khuyến khích tự học, bảo đảm cho mọi công dân quyền được học, được thi, được chọn trường, chọn thầy, chọn nghề, được học tập trong nước và đi học nước ngoài.46] Trong hệ thống giáo dục phổ thông, việc phát triển các loại hình trường ngoài công lập, trong đó có trường dân lập, chính là thực hiện chủ trương đa dạng hóa giáo dục nhằm tạo cơ hội cho thanh thiếu niên nâng cao trình độ học vấn, tiếp cận những cái mới, những tiến bộ khoá học kỹ thuật để vận dụng trong công việc và ương đời sống hàng ngày, góp phần'đáp ứng nhu cầu sử dụng của kinh tế thị trường nói riêng, của đời sống xã hội nói chung. Thành tựu của giáo dục trong 15 năm đổi mới đã khẳng định : Hệ thống giáo dục đã bước đầu được đa dạng hóa cả về loại hình, phương thức và nguồn lực. từng bước hòa nhịp với xu thế chung của giáo dục thế giới. Từ một hệ thống chỉ có các trường công lập và chủ yếu là loại hình chính quy đến nay đã có các trường ngoài công lập, có nhiều loại hình không chính quy, có các trường mở, có phương thức đào tạo từ xa, phương thức liên kết đào tạo với nước ngoài.
Thực hiện thu học phí với hầu hết các cấp học và trình độ đào tạo sau phổ cập. Tỷ lệ học sinh, sinh viên ngoài công lập trong tổng số học sinh, sinh viên ngày càng tăng; trong năm học 2000-2001 chiếm 66% trẻ em các nhà trẻ, hơn 50% học sinh mẫu giáo, hơn 34% học sinh THPT, hơn 11% sinh viên đại học. [4] Từ những thành tựu trên, một trong những giải pháp để thực hiện mục tiêu phát triển giáo dục đến năm 2010 là:"Phát triển các trường ngoài công lập; chuyển một số trường công lập thành trường ngoài côn2 lập khi có đủ điều kiện thích hợp; củng cô" và nâng cao chất lượng giáo dục của các trường ngoài công lập; các trường ngoài công lập được ưu tiên thuê đất và vay vốn tín dụng xây trường; nhà trường, nhà giáo và học sinh, sinh viên các trường ngoài công lập được bình đẳng như các trường công lập; hoàn thiện và ban hành các cơ chế chính sách hỗ trợ các trường ngoài công lập". Loại hình trường THPT dân lập.
Đặc điểm của các trường ngoài công lập. Trường dân lập hiện nay thường được xếp trong nhóm các loại hình trường ngoài công lập gồm bán công, dân lập, tư thục. Cũng như loại hình trường công lập, các loại hình trường ngoài công lập đều nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân và "đều chịu sự quản lý nhà nước của các cơ quan quản lý giáo dục theo sự phân công, phân cấp của Chính phủ" [16,tr. Mà cụ thể là : -Cùng có nhiệm vụ nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
-Cùng thực hiện mục tiêu, chương trình, nội dung do Bộ GD-ĐT ban hành. -Đều có trách nhiệm thực hiện các chủ trương, chính sách giáo dục của Đảng, Nhà nước, các chỉ thị, quy chế của ngành; chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, thanh ưa trực tiếp, toàn diện về chuyên môn của ngành. Nếu loại trường công lập được Nhà nước tạo điều kiện để giữ vai trò nòng cốt trong hệ thống giáo dục quốc dân thì các trường ngoài công lập cũng được Nhà nước có chính sách khuyến khích như: -Được hưởng các chính sách khuyên khích về CSVC, đất đai, về thuế, phí, lệ phí, tín dụng, bảo hiểm, khen thưởng và phong tặng danh hiệu theo quy định của Chính phủ. -Bình đẳng với trường công lập về nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường, của giáo viên, giảng viên, nhân viên và học sinh, sinh viên trong việc thực hiện mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp GD-ĐT và các quy định liên quan đến tuyển sinh, dạy và học, thi, kiểm tra công nhận tốt nghiệp, cấp văn bằng, chứng chỉ.
[32] Tuy nhiên, giữa các loại hình trường công lập và các trường ngoài công lập, giữa các trường ngoài công lập với nhau cũng có những đặc điểm riêng : * Trường công lập là "Do Nhà nước thành lập, bổ nhiệm cán bộ quản lý và giao chỉ tiêu biên chế; Nhà nước quản lý, đầu tư về CSVC, cấp kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên".86] * Đối với các trường ngoài công lập, vì không phải chỉ do Nhà nước thành lập nên theo quy chế, trường ngoài công lập có từ hai thành viên góp vốn trở lên phải có Hội đồng quản trị và Ban kiểm ưa tài chính. Hội đồng quản trị là tổ chức đại diện quyền sở hữu của nhà trường, có trách nhiệm và quyền tự chủ quyết định những vấn đề quan trọng về quy hoạch, kế hoạch phát triển, tổ chức, nhân sự và tài chính, tài sản của trường. Hội đồng này có những nhiệm vụ và quyền hạn sau : + Quyết định, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch phát triển nhà trường. + Xây dựng và quyết định các chế độ thu chi tài chính trong trường theo quy định của Nhà nước về chế độ quản lý tài chính đối với các đơn vị ngoài công lập hoạt động trong lĩnh vực GD-ĐT.
+ Huy động các nguồn vốn để xây dựng trường, giám sát việc quản lý tài chính và tài sản của nhà trường, phê duyệt dự toán và quyết toán ngân sách hàng năm do Hiệu trưởng trình. + Giải quyết các yêu cầu đột xuất về việc bổ sung, thay đổi thành viên HĐQT trong nhiệm kỳ và đề nghị cấp có thẩm quyền thành lập trường công nhận.