Chương 1: Những vấn đề cơ bản về giải ngân vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) Chương 2: Thực trạng giải ngân vốn ODA ở Việt Nam thời gian qua Chương 3: Giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn ODA ở Việt Nam trong thời gian tới. CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ GIẢI NGÂN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA) 1. TỔNG QUAN VỀ VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC 1. Khái niệm Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) ra đời sau chiến tranh thế giới thứ II bằng kế hoạch Mashall của Mỹ viện trợ cho các nước Châu Âu nhằm phục hồi các ngành công nghiệp bị chiến tranh tàn phá.
Để tiếp nhận nguồn viện trợ tái thiết nền kinh tế của kế hoạch này, xuất phát từ ý tưởng thành lập một tổ chức bao gồm các nền kinh tế phát triển đồng ý cung cấp giúp đỡ các nước đang phát triển, các nước Châu Âu đã đưa ra một chương trình phục hồi kinh tế có phối hợp và thành lập một tổ chức hợp tác kinh tế của Châu Âu. Ngày 14 tháng 12 năm 1960, tại Paris đã diễn ra lễ ký kết thành lập “Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển”, gọi tắt là OECD (Organization for Economic Cooperation and Development). Trong khuôn khổ hợp tác và phát triển, các nước OECD đã lập ra những Uỷ ban chuyên môn, trong đó có Uỷ ban hỗ trợ phát triển (DAC – Development Assistance Commitee), chuyên 4 trách về công tác viện trợ nhằm giúp các nước đang phát triển phát triển kinh tế và nâng cao hiệu quả đầu tư. Thường kỳ các nước thành viên DAC thông báo cho Uỷ ban các khoản đóng góp của họ cho các chương trình viện trợ phát triển và trao đổi với nhau các vấn đề liên quan tới chính sách viện trợ phát triển.
Từ đây, viện trợ phát triển mới thực sự phổ biến và được quốc tế hoá. Từ sự thoả thuận của các nước công nghiệp phát triển sau chiến tranh về sự trợ giúp dưới dạng viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều kiện ưu đãi cho các nước đang phát triển, sự đóng góp của các nước phát triển cho quá trình tăng trưởng kinh tế của những nước nghèo không còn mang tính tự giác nữa mà đã có tính chất bắt buộc. Năm 1970, Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc đã đề nghị các nước tài trợ giành khoảng 0,7% GNP của nước mình để tạo nguồn viện trợ cho các nước nghèo. Khái niệm ODA được Uỷ ban hỗ trợ phát triển DAC chính thức đề cập vào năm 1969: “Hỗ trợ phát triển chính thức ODA là nguồn vốn hỗ trợ chính thức từ bên ngoài bao gồm các khoản viện trợ và cho vay với các điều kiện ưu đãi: ODA được hiểu là nguồn vốn dành cho các nước đang và kém phát triển được các cơ quan chính thức của các Chính phủ trung ương và địa phương hoặc các cơ quan thừa hành của Chính phủ, các tổ chức liên Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ tài trợ.
Vốn ODA phát sinh từ nhu cầu cần thiết của một quốc gia, một địa phương, một ngành, được tổ chức quốc tế hay nước bạn xem xét và cam kết tài trợ thông qua một Hiệp định quốc tế, được đại diện có thẩm quyền hai bên nhận và hỗ trợ vốn ký kết. Hiệp định quốc tế hỗ trợ này được chi phối bởi công pháp quốc tế. Theo Ngân hàng Thế giới (WB) thì hỗ trợ phát triển chính thức, bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại cộng với các khoản vay có thời gian dài và lãi suất thấp hơn so với mức lãi suất thị trường. Mức độ ưu đãi của một khoản vay được đo lường bằng yếu tố cho không – Grand element.
Một 5 khoản tài trợ không phải hoàn trả sẽ có yếu tố cho không 100%, gọi là các khoản viện trợ không hoàn lại. Một khoản vay ưu đãi được coi là ODA phải có yếu tố cho không ít nhất là 25%. Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) cũng đã đưa ra quan điểm về ODA : Nguồn viện trợ phát triển chính thức bao gồm các khoản cho không và các khoản vay đối với các nước đang phát triển, đó là nguồn vốn do các bộ phận chính thức cam kết (nhà tài trợ chính thức), nhằm mục đích cơ bản là phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội và được cung cấp bằng các điều khoản tài chính ưu đãi (nếu là khoản vay, sẽ có yếu tố cho không, ít nhất là 25%) Nghị định 17 - CP ra ngày 04 tháng 05 năm 2001 của Chính phủ Việt Nam quy định: “Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Nhà tài trợ (Chính phủ nước ngoài, các tổ chức liên Chính phủ hoặc liên quốc gia) dưới các hình thức chủ yếu: hỗ trợ cán cân thanh toán, hỗ trợ chương trình và hỗ trợ dự án với yếu tố không hoàn lại (hay còn gọi là thành tố hỗ trợ) đạt ít nhất 25%”. Như vậy, theo cách hiểu chung nhất của chúng ta hiện nay: “Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA – Official Development Assistance) là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều kiện ưu đãi của các cơ quan tài chính thuộc các tổ chức quốc tế, các cơ quan đại diện hợp tác phát triển quốc tế của các nước nhằm hỗ trợ cho sự phát triển và thịnh vượng của các nước khác (không tính đến các khoản viện trợ cho mục đích thuần tuý quân sự).
Các đối tác viện trợ chính thức cung cấp ODA (nguồn cung cấp) trên thế giới quan trọng nhất hiện nay là: - Các đối tác song phương chủ yếu là các nước phát triển và các nước trong Uỷ ban hỗ trợ phát triển DAC thuộc tổ chức OECD. - Các đối tác đa phương là các tổ chức quan trọng thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc (UNDP, UNESCO, IFAD, FAO, WFP,…); các tổ chức tài chính quốc tế (IMF - Quỹ Tiền tệ Quốc tế, WB - Ngân hàng Thế giới, 6 ADB - Ngân hàng phát triển Châu Á, OPEC - Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ…); các cơ quan, tổ chức hợp tác phát triển của các cường quốc kinh tế như Liên minh Châu Âu - EU, … và các tổ chức phi Chính phủ. Đặc điểm ODA là sự chuyển giao không hoàn lại hoặc có hoàn lại với những điều kiện ưu đãi nhất định từ một phần tổng sản phẩm quốc dân của nước phát triển sang các quốc gia đang phát triển, chậm và kém phát triển, trong đó chủ sở hữu vốn không trực tiếp quản lý và điều hành các hoạt động sử dụng vốn. Từ kết quả của viện trợ quốc tế có thể thấy được đặc điểm của nguồn vốn ODA: a) ODA có tính chất ưu đãi: ODA là một khoản nợ nước ngoài với mục đích tài trợ cho phát triển, thực chất ODA là một khoản tài trợ nợ, tuy nhiên không giống như các khoản tài trợ nợ khác như trái phiếu, vay tín dụng ngân hàng, ngoài phần cho không khá lớn, các khoản ODA vốn vay sẽ trả gốc lẫn lãi nhưng với những điều kiện ưu đãi hết sức đặc biệt: lãi suất thấp hơn các khoản vay thông thường rất nhiều (thường dưới 3%/năm); thời gian sử dụng vốn dài thường từ 20 - 50 năm, trong đó thời gian ân hạn (không phải trả lãi) từ 5 - 10 năm và thời gian chịu lãi suất với lịch trả nợ cũng đa dạng, gồm nhiều giai đoạn và được áp dụng những tỷ lệ trả nợ khác nhau theo từng giai đoạn.
Chẳng hạn, WB tài trợ với thời hạn vay 40 năm, ân hạn 10 năm, không lãi và phí quản lý 0,75%/năm; Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) có thời hạn vay 30 năm, 10 năm ân hạn, phí quản lý 1%/năm; Nhật Bản cho vay thời hạn 30 năm, 10 năm ân hạn, lãi suất từ 1% đến 2,3%/năm; Quỹ phát triển Pháp cho vay thời hạn 32 năm, 8 năm ân hạn lãi suất 3,5%/năm… Để được xếp vào ODA, một khoản cho vay phải có thành tố viện trợ cho không quy đổi tối thiểu 25%. Thành tố hỗ trợ cho không giúp lượng hoá mức 7 độ ưu đãi của một khoan vay vốn ODA so với khoản vay thương mại thông thường: Bảng 1.1: Xác định yếu tố cho không trong viện trợ Thời gian (năm) Yếu tố Nguồn vốn Hoàn trả Ân hạn cho không (%) Cho không 100% Vay thương mại, lãi 10% 0% Vay, lãi 3% 11 3 35 Vay, lãi 2% 25 7 45 Vay, lãi 1% 25 2.5 55 Vay, lãi 0,75% 25 7 70 Vay, lãi 0% 25 7 76 (Nguồn: Nhìn lại 5 năm huy động và sử dụng ODA. Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 10/1997) Rõ ràng ODA là hỗ trợ cho phát triển lâu dài và bền vững. b) Đối tác sử dụng viện trợ ODA là các nước đang phát triển, chậm phát triển và các nước nghèo với thu nhập bình quân trên đầu người thấp, dưới 1000$/năm.
Mức thu nhập bình quân đầu người của quốc gia được coi là tiêu chí quan trọng khi quyết định viện trợ ODA. WB, IMF quy định nước được nhận ODA là những nước có thu nhập bình quân đầu người < 750$/năm, thời hạn là 40 năm, ân hạn 10 năm, lãi suất 0,75%/năm. Đối với Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), Quỹ phát triển Châu Á (ADF) cung cấp vốn vay ưu đãi cho những nước nghèo nhất có quy định: quỹ này được sử dụng để cho vay các nước thành viên có thu nhập bình quân đầu người dưới 610$/năm (80% vốn vay ADB từ nguồn ADF), từ 610$ đến 1171$/năm (60% vốn vay ADB từ nguồn ADF) và trên 1171$/ năm (40% vốn vay ADB từ nguồn ADF) với lãi suất 1% trong thời gian ân hạn và 1,5% sau thời gian ân hạn, thời gian vay 32 năm trong đó có 8 năm ân hạn. c) Cách thức cung cấp ODA rất đa dạng, phong phú, vì vậy khá phức tạp.
Có thể nhận xét rằng có bao nhiêu nhà tài trợ thì có chừng ấy quy trình và thủ tục cung cấp ODA. Chính vì thế, khả năng chủ động sử dụng ODA 8 thấp hơn các nguồn vốn khác. Thành phần nguồn vốn ODA phức tạp, tồn tại dưới nhiều hình thức: ODA không hoàn lại, ODA có hoàn lại với nhiều dạng hỗ trợ khác nhau như hỗ trợ dự án, hỗ trợ kỹ thuật, công nghệ, hàng hoá… ODA vốn vay nghĩa là có hoàn lại, lại kết hợp nhiều hình thức: có ODA vay thuần tuý, có ODA vay hỗn hợp.