Chương 1: Cơ sở lý luận về đầu tư và hiệu quả đầu tư xây dựng giao thông đường bộ. Chương 2: Hiện trạng đầu tư xây dựng giao thông đường bộ tỉnh Quảng Nam từ năm 2005-2010 Chương 3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư giao thông đường bộ tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011-2020. CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƢ VÀ HIỆU QUẢ ĐẦU TƢ XÂY DỰNG GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐẦU TƢ VÀ HIỆU QUẢ ĐẦU TƢ 1.1 Tổng quan về đầu tƣ 1.1 Khái niệm về đầu tư Đầu tư là khái niệm rộng, tùy thuộc vào quan điểm và mục đích nghiên cứu có những khái niệm khác nhau về đầu tư.
Theo quan điểm kinh tế: Đầu tư là sự bỏ ra một lượng vốn để tạo ra một tài sản dưới một hình thức nào đó (có thể là hình thức vật chất cụ thể như nhà cửa, máy móc thiết bị hay là hình thức tài chính như mua cổ phần, cho vay…) nhằm khai thác và sử dụng nó để tài sản này có khả năng sinh lời hay thỏa mãn một nhu cầu nhất định nào đó của người bỏ vốn trong một khoảng thời gian nhất định trong tương lai. Tức là đầu tư là hoạt động bỏ vốn để tạo ra một tài sản để tài sản này có thể tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất nối tiếp nhau để đạt được mục đích của người bỏ vốn. Theo quan điểm tài chính: Đầu tư là làm bất động một số vốn, để sau đó rút ra với một khoản tiền lãi ở thời kỳ tiếp theo. Nói chi tiết hơn, đó là một chuỗi hành động chi tiền của chủ đầu tư, từ đó chủ đầu tư sẽ tự nhận được một chuỗi tiền tệ để đảm bảo hoàn trả vốn và trang trải mọi chi phí có liên quan và có lãi.
Theo quan điểm kế toán: Đầu tư là gắn liền với một số khoản chi vào động sản hoặc bất động sản để tạo ra các khoản thu lớn hơn. Như vậy dù theo quan điểm nào đi nữa chúng vẫn có những cái chung, đó là: Đầu tư là hoạt động bỏ vốn trong khoảng thời gian nhất định để đạt được mục đích của chủ đầu tư thông qua hoạt động đầu tư. Vốn ở đây chúng ta có thể hiểu rằng đó là tiền hoặc tài sản hoặc thời gian lao động, còn mục đích của chủ đầu tư là mang lại lợi ích thông qua hoạt động đầu tư. Lợi ích có thể tính bằng tiền hoặc không thể tính được bằng tiền.
Tính sinh lời là đặt trưng của đầu tư. Từ những quan điểm trên cho chúng ta đi đến kết luận: Đầu tư là hoạt động bỏ vốn ( vốn có thể bằng tiền, tài sản hoặc thời gian lao động) để đạt được mục đích sinh lợi của chủ đầu tư thông qua hoạt động đầu tư). Hoạt động đầu tư là hoạt động bỏ vốn vào các lĩnh vực kinh tế xã hội để thu được lợi ích dưới hình thức khác nhau. Điều kiện của hoạt động đầu tư: Để có thể gọi là hoạt động đầu tư cần phải có ba điều kiện cơ bản sau: Lượng vốn bỏ ra phải đủ lớn; thời gian khai thác kết quả đầu tư tương đối dài (lớn hơn một năm); hoạt động đầu tư phải hướng đến mục đích của chủ đầu tư.
Đầu tư xây dựng giao thông ở mọi quốc gia, mọi thời đại đều cũng đòi hỏi vốn đầu tư lớn bởi vì trong đầu tư xây dựng giao thông vốn để đầu tư xây dựng, duy tu, bảo dưỡng hàng loạt tài sản cố định liên kết với nhau tạo thành một hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông phục vụ đời sống kinh tế, xã hội của quốc gia. Các nước trên thế giới, kể cả những nước có hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông khá phát triển, hằng năm đã dành một tỷ lệ đầu tư đáng kể cho xây dựng giao thông. Đối với nước ta hằng năm cũng đã dành một khoảng đầu tư rất lớn trong tổng vốn đầu tư cho nền kinh tế quốc dân, tuy nhiên căn cứ vào hiện trạng giao thông vận tải cả nước thì giá trị đầu tư chưa tương xứng. Sau chiến tranh, nước ta bị tàn phá nặng nề, hệ thống giao thông bị hư hỏng nặng, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn do đó việc đầu tư xây dựng và phát triển mạng lưới giao thông chưa được quan tâm đúng mức.
Khi đất nước ta bước vào nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo cho đất nước phát triển tăng nguồn thu ngân sách do đó ngân sách bố trí đầu tư phát triển giao thông được tăng cao, đầu tư phát triển giao thông vận tải một thị trường rộng lớn. Với nền kinh tế được đa dạng hóa với mức tăng trưởng từ 7% - 10% năm thì giao thông vận tải phải phát triển với mức độ cao hơn bởi ngành vừa phải khôi phục hệ thống giao thông, vừa phải xây dựng với quy mô lớn và hiện đại hơn. Như vậy để thực hiện được trách nhiệm này đòi hỏi vốn đầu tư lớn, đây là đặc điểm nổi bật của đầu tư xây dựng giao thông. Thời gian đầu tư xây dựng giao thông vận tải được tính từ khi bỏ vốn cùng tất cả tài nguyên, lao động và vật chất khác để đầu tư xây dựng cho đến khi hoàn tất và đưa công trình vào khai thác sử dụng.
Nước ta hiện nay, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nói chung và xây dựng giao thông vận tải nói riêng đòi hỏi một thời gian dài để thực hiện các giai đoạn đầu tư theo đúng qui định của Nhà nước. Theo Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/2/2009 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình thì mọi công tác đầu tư và xây dựng phải được tiến hành đúng trình tự theo ba giai đoạn: Giai đoạn chuẩn bị đầu tư; Giai đoạn thực hiện đầu tư; Giai đoạn kết thúc đưa công trình vào khai thác sử dụng. Giai đoạn chuẩn bị đầu tư : Nghiên cứu sự cần thiết phải đầu tư và qui mô đầu tư Tiến hành tiếp xúc, thăm dò thị trường trong nước hoặc ngoài nước để tìm nguồn cung ứng vật tư, thiết bị, nơi tiêu thụ sản phẩm, khả năng cạnh tranh, xem xét các khả năng có thể huy động được nguồn vốn đầu tư và hình thức đầu tư. Tiến hành điều tra, khảo sát và chọn địa điểm xây dựng.
Lập dự án đầu tư. Thẩm định dự án để quyết định đầu tư. Giai đoạn thực hiện đầu tư : Xin giao hoặc thuê đất theo qui định của Nhà nước. Xin giấy phép xây dựng và giấy phép khai thác tài nguyên (nếu có).
Tổ chức đền bù giải phóng mặt bằng thực hiện kế hoạch di dân và phục hồi (nếu có) và chuẩn bị mặt bằng xây dựng. Thẩm định thiết kế công trình, tổng dự toán. Tổ chức đấu thầu mua sắm thiết bị và thi công xây lắp. Ký hợp đồng với nhà thầu để thực hiện dự án.
Tiến hành thi công xây lắp công trình. Theo dõi kiểm tra thực hiện các hợp đồng. Quản lý kỹ thuật, chất lượng thiết bị và chất lượng xây dựng. Giai đoạn kết thúc xây dựng và đưa dự án vào khai thác sử dụng: Nghiệm thu bàn giao công trình Thực hiện việc kết thúc xây dựng công trình Vận hành công trình và hướng dẫn sử dụng Bảo hành công trình Quyết toán vốn đầu tư Phê duyệt quyết toán Việc áp dụng công nghệ hiện đại, tiến bộ khoa học kỹ thuật vào lĩnh vực thi công xây dựng nhằm tạo ra những sản phẩm có quy mô, có độ bền phù hợp với nhu cầu sử dụng, có hình thức phù hợp với cảnh quan và truyền thống văn hóa của đất nước, đồng thời rút ngắn thời gian thi công.
Tuy nhiên quá trình thực hiện đầu tư cũng thường xuyên bị gián đoạn do nhiều yếu tố chủ quan, khách quan khác nhau như tình trạng thiếu vốn, việc đền bù giải tỏa giải phóng mặt bằng thi công, điều kiện khí hậu thời tiết không thuận lợi như mưa, bão, lũ lụt… làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án, đặc biệt là các dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông. Hoạt động đầu tư phải đảm bảo mang lại hiệu quả, đối với giao thông vận tải là ngành phục vụ toàn bộ nền kinh tế quốc dân cũng như phục vụ đời sống cho toàn dân, chính vì vậy hiệu quả đầu tư giao thông mang tính xã hội sâu sắc, khác với mọi hoạt động đầu tư khác nhằm mục đích sinh lợi nhuận cho chính chủ đầu tư, mục tiêu hàng đầu của việc đầu tư xây dựng giao thông là nhằm phục vụ cho sự phát triển của nền kinh tế, phục vụ việc đi lại thuận lợi, nâng cao đời sống nhân dân. Lợi ích kinh tế - xã hội chính là kết quả so sách có mục đích giữa cái giá mà xã hội phải trả cho việc sử dụng các nguồn lực sẵn có của mình một cách tốt nhất và ích lợi do dự án mang lại cho toàn bộ nền kinh tế, hiệu quả đầu tư xây dựng giao thông có thể lượng hóa được như giảm chi phí tiết kiệm thời gian đi lại, tạo điều kiện trao đổi giữa các vùng miền với nhau và hiệu quả không thể lượng hóa được như tạo sự thỏa mái, an toàn trong quá trình đi lại, tạo cảnh quan thêm khang trang và hiện đại… Giao thông vận tải có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân với chức năng “mạch máu của nền kinh tế quốc dân” tạo điều kiện và thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển là một trong những cơ sở hạ tầng quan trọng nhất đảm bảo lưu thông hàng hóa và hành khách, nối liền với thị trường thành thị và nông thôn, nối liền quốc gia với khu vực và liên kết cộng đồng quốc tế. Không có giao thông vận tải hoặc giao thông vận tải yếu kém thì sản xuất không thực hịên được trao đổi và lưu thông.
Mọi sản phẩm nói chung không được tiêu thụ, các tư liệu sản xuất hay các vật phẩm không được đưa đến người tiêu dùng. Ngoài ra giao thông độc đạo, năng lực khai thác kém tạo nên những tình huống xấu bất lợi, ách tắc và giao thông không thuận lợi sẽ ngăn cản đầu tư, sẽ hạn chế mở mang tiếp cận tiến bộ, công nghệ, khoa học kỹ thuật mở rộng và phát triển sản xuất, hạn chế tới giao lưu và trao đổi văn hóa, y tế giáo dục.