CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUỖI CUNG ỨNG 1.1 Tổng quan quản trị chuỗi cung ứng 1.1 Định nghĩa Ở Việt Nam, khái niệm chuỗi cung ứng còn tương đối mới mẻ và chỉ được du nhập vào Việt Nam trong những năm gần đây nhưng nó được nhân rộng và phát triển rất nhanh trong giảng dạy, ứng dụng vào thực tiễn. Chuỗi cung ứng được hình thành từ tất cả các thành phần tham gia vào việc đáp ứng nhu cầu khách hàng trực tiếp hay gián tiếp, đó là các nhà cung cấp nguyên vật liệu/dịch vụ phục vụ sản xuất, nhà sản xuất, nhà phân phối, các dịch vụ phân phối sản phẩm và khách hàng. Trong tổ chức thì chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các chức năng liên quan đến việc tiếp nhận và đáp ứng nhu cầu khách hàng. Như vậy, chuỗi cung ứng là một hệ thống phối hợp hoạt động, hợp tác, chia sẻ thông tin/nguồn lực giữa các tổ chức, cá nhân liên quan đến việc cung ứng sản phẩm/dịch vụ đến tay người tiêu dùng.
Các bên liên quan trong một chuỗi cung ứng bao gồm: - Nhà sản xuất hàng hóa, dịch vụ. - Người cung ứng nguyên vật liệu. - Nhà phân phối, bán lẻ và người tiêu dùng. Nhà cung cấp Nguyên liệu thô Nhà sản xuất Nhà phân phối Nguời tiêu dùng Khách hàng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1: Sơ đồ khái quát chuỗi cung ứng 1 Làm thế nào để tối ưu hóa chuỗi cung ứng là một phạm trù được nhiều tổ chức, nhiều trung tâm nghiên cứu quan tâm và có nhiều định nghĩa khác nhau về chuỗi cung ứng: - Định nghĩa thứ nhất: “Quản trị chuỗi cung ứng là việc quản lý các mối quan hệ bên trên và bên dưới với nhà cung cấp và khách hàng nhằm cung cấp giá trị khách hàng cao nhất với chi phí thấp nhất tính cho tổng thể chuỗi cung ứng” 2 - Định nghĩa thứ hai: “Là một hệ thống các tổ chức vừa liên kết vừa độc lập, cùng làm việc, hợp tác để kiểm soát, quản lý và kiểm soát luồng dịch chuyển nguyên liệu và luồng thông tin từ nhà cung cấp cho đến khách hàng cuối cùng” 3 - Định nghĩa thứ ba: “Quản trị chuỗi cung ứng là sự hợp nhất các quy trình hoạt động kinh doanh chủ yêú từ người tiêu dùng cuối cùng cho đến nhà cung ứng đầu tiên cung cấp các sản phẩm dịch vụ, thông tin, qua đó gia tăng giá trị cho khách hàng và các cổ đông” 4 Theo Tác Giả: Trong nhiều định nghĩa chuỗi cung ứng thì định nghĩa thứ ba của James R.Stock và Douglas M Lamber là Tác Giả nhận thấy đầy đủ và phù hợp với xu hướng hiện tại nhất vì chuỗi cung ứng trong định nghĩa này hướng về khách hàng và các thành phần tham gia nhằm mang lại lợi ích tổng thể cho toàn chuỗi.2 Chức năng, nhiệm vụ của SCM Trong thời gian qua, việc phân biệt chuỗi cung ứng và quản trị logistics trên thế giới còn là một vấn đề gây nhiều tranh cãi.
Hội đồng quản trị logistics (CLM) năm 1986 đã đưa ra định nghĩa về logistics như sau: “Logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện, và kiểm soát hiệu quả luồng chi phí, việc bảo quản nguyên vật liệu, tồn kho bán thành phẩm, thành phẩm và luồng thông tin liên quan từ điểm bắt đầu đến điểm tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng”. Theo đó, SCM được xem là logistics bên ngoài doanh nghiệp, bao gồm khách hàng và nhà cung ứng. Cùng với sự 1 “Nguồn: http://organizations.edu/sascm/ ” [17] 2 “Nguồn: Martin Christopher (1992), Logistics and supply chain management, Pearson Education, UK” [10] 3 “Nguồn: Aitken, supply chain management intergration within the content of a suppliers association, UK” [8] 4 “Nguồn: James R.Stock & Douglas M Lamber (2001), Strategic logistics management, McGRAW-HILL” [13] TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -5- phát triển của SCM, tổ chức này đã đưa ra khái niệm mới về SCM, coi đó là sự hợp nhất logistics và chuỗi cung ứng để quản lý các quy trình chủ yếu trong hoạt động kinh doanh. Từ quan điểm này năm 1989.
CLM đã định nghĩa lại logistics và xem logistics là một phần của chuỗi cung ứng. Phạm vi hoạt động của logistics bao gồm: các hoạt động quản lý logistics đặc trưng bao gồm: quản lý vận tải trong và ngoài nước, quản lý hãng tàu, nhà kho, lên kế hoạch cung cầu, quản lý những nhà cung cấp dịch vụ thứ ba. Quản lý logistics là một chức năng kết hợp, bao gồm đánh giá các hoạt động logistics, đồng thời hợp nhất các hoạt động logistics với các chức năng khác như marketing, bán hàng, sản xuất, tài chính và công nghệ thông tin. Trong khi đó, chức năng và phạm vi hoạt động của SCM là kết nối các nhiệm vụ chính yếu trong tổ chức với nhau, kết nối chức năng với các quy trình kinh doanh.
Nó bao gồm tất cả các hoạt động logistics, đồng thời bao gồm cả các hoạt động sản xuất, hướng đến sự kết hợp các quy trình, các chương trình marketing, bán hàng, thiết kế sản phẩm, tài chính và ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả các quá trình đó.3 Vai trò của scm đối với doanh nghiệp và nền kinh tế 1.1 Vai trò của scm đối với nền kinh tế SCM là bước phát triển theo logistics. Ngoài những đóng góp cho nền kinh tế như các hoạt động thông thường khác như: - Hỗ trợ các luồng giao dịch trong nền kinh tế. - Tăng cường hiệu quả hoạt động của nền kinh tế. - Tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm và người tiêu dùng nhờ những lợi ích mà logistics tạo ra như rút ngắn thời gian đặt hàng, đảm bảo an toàn cho hàng hóa trong quá trình vận chuyển.
- Tăng cường khả năng hội nhập của nền kinh tế. Tuy nhiên, khác với các hoạt động logistics chú ý nhiều đến hoạt động vận chuyển, kho vận,… SCM chú trọng đến việc hợp lý hóa các hoạt động trong nội bộ doanh nghiệp với triết lý “hợp lý hóa và hợp tác cùng có lợi”, trong đó mọi hoạt động 5 “Nguồn: Vũ Thị Thúy Nga (2007), Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty LD dược phẩm SANOFI-AVENTIS Việt Nam, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường ĐH Kinh Tế TPHCM” [4] TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -6- của doanh nghiệp luôn được xem xét và điều chỉnh sao cho hợp lý và hiệu quả nhất. Bên cạnh sự hợp tác chặt chẽ với đối tác kinh doanh, thông qua các hoạt động trong nội bộ doanh nghiệp. Ngoài những lợi ích mà nó mang lại cho doanh nghiệp, SC cũng đóng góp một phần lớn cho nền kinh tế: - Giúp nền kinh tế sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực sẳn có.
- Góp phần hình thành nền văn hóa hợp tác toàn diện trong kinh doanh. - Góp phần nâng cao dịch vụ khách hàng, xem người tiêu dùng là trung tâm các hoạt động kinh doanh. Tóm lại: dưới góc độ của nền kinh tế, SC mang lại một môi trường kinh doanh hợp tác hơn, với triết lý “Win-Win” trong hợp tác. Nó sử dụng các nguồn lực xã hội (con người, tài nguyên,…) hiệu quả hơn.
Xuyên suốt SC, người tiêu dùng luôn được đặt ở vị trí trung tâm, hướng kinh doanh vào mục tiêu phục vụ con người.2 Vai trò của scm đối với doanh nghiệp SCM có ý nghĩa vô cùng to lớn trong hoạt động của doanh nghiệp từ việc mua nguyên vật liệu nào ? từ ai ? sản xuất như thế nào ? sản xuất ở đâu ? phân phối như thế nào ? tối ưu hóa từng quá trình sẽ giúp doanh nghiệp giảm chi phí và nâng cao khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp. Đó là một yêu cầu sống còn đối với doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc giảm chi phí có thể từ nhiều nguyên nhân: - Thứ nhất: doanh nghiệp có lợi thế quy mô khi hợp tác với một hoặc một số nhà cung ứng. - Thứ hai: Doanh nghiệp không mất thời gian thay đổi nhà cung ứng khi nhà cung ứng không có khả năng đáp ứng nhu cầu, giảm chi phí giao dịch, chi phí phát triển sản phẩm.
Việc tối ưu hóa SCM thì một điều kiện tiên quyết là phải có sự liên kết trong toàn chuỗi cung ứng. Như vậy, các thông tin hàng hóa, thị trường,… thường xuyên được cập nhật đến từng mắt xích của chuỗi, giúp giảm chi phí và truyền tải thông tin. Đồng thời nó cũng giúp doanh nghiệp nắm bắt được xu hướng tiêu dùng, dự báo nhu cầu trong tương lai, từ đó giảm lượng hàng hóa, vật tư tồn kho, nâng cao khả năng 6 “Nguồn: Đoàn Thị Hồng Vân (2003), Logistics những vấn đề cơ bản, NXB Thống Kê, Hà Nội” [6] TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -7- cung ứng của doanh nghiệp. Nhờ SCM, doanh nghiệp có thể tăng cường khả năng quản lý nguồn cung của nguồn cung, đồng thời quản lý cầu thông qua quản lý cầu của nhà phân phối.
Dự báo nhu cầu được thực hiện dựa trên số liệu bán hàng, các chương trình marketing, xu hướng tiêu dùng, vá các điều kiện kinh tế khác. Ngày nay, với sự phát triển của công nghệ thông tin, cộng tác dự báo đã được số hóa nhằm đơn giản hóa công tác dự báo, đồng thời tăng độ chính xác của các số liệu dự báo. Dự báo là tiền đề giúp doanh nghiệp lập các kế hoạch nhu cầu, kế hoạch sản xuất, bán hàng, marketing, nhân sự, tài chính… tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đối phó với các biến động có thể xảy ra. Mặt khác, thông qua SCM mà việc quản lý nhà cung cấp, quản lý chất lượng nguyên liệu đầu vào cũng như kiểm soát chất lượng đầu ra tốt hơn.
Hệ thống thông tin giúp các doanh nghiệp thuận tiện hơn trong quản lý sản phẩm theo từng lô hàng, cho phép doanh nghiệp xử lý kịp thời trong những tình huống phát sinh về chất lượng sản phẩm, mẫu mã. Hệ thống đánh giá bằng các chỉ số, doanh nghiệp có thể xác định được các điểm bất ổn đề ra những phương án khắc phục, điều chỉnh kịp thời.2 Các bộ phận cấu thành chuỗi cung ứng 1.1 Cơ cấu chuỗi cung ứng chiến lược trong tổ chức Chiến lược kinh doanh Quy trình kinh Chiến lược chuỗi cung ứng doanh Dòng nguyên liệu Quản lý phân phối và logistics Quản lý nhà cung cấp và Dòng thông tin Quản lý hoạt cung ứng động Hình 1.2 : Cơ cấu chuỗi cung ứng chiến lược 8 7 “Nguồn: Đoàn Thị Hồng Vân (2003), Logistics những vấn đề cơ bản, NXB Thống Kê, Hà Nội” [6] 8 “Nguồn: http://howe.edu/academics” [16] TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Chiến lược kinh doanh (công ty) Mục tiêu của mọi công ty là triển khai lợi thế cạnh tranh khác nhau và bền vững. Công ty có khả năng đảm bảo sự tồn tại lâu dài.