Chương 1: Tổng quan về GTĐT và hệ thống VTKHCC. Chương 2: Hiện trạng hệ thống GTĐT và VTHKCC bằng xe buýt trên địa bàn Tp.Hồ Chí Minh. Chương 3: Các giải pháp phát triển, nâng cao chất lượng dịch vụ và tính thu hút khách hàng của hệ thống VTHKCC bằng xe buýt. Người thực hiện: Trƣơng Tấn Tài GVHD: NGND.TS Nguyễn Huy Thập 2 LUẬN VĂN THẠC SỸ CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ GIAO THÔNG ĐÔ THỊ VÀ HỆ THỐNG VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG 1.
Khái niệm về giao thông đô thị 1. Tầm quan trọng của giao thông đô thị Thuật ngữ giao thông được hiểu là tập hợp các công trình, các phương tiện khác nhau và các con đường giao thông đảm bảo liên hệ giữ các khu vực với nhau. Trong sinh hoạt của thành phố hiện đại, không thể thiếu việc tổ chức giao thông đô thị. Giao thông đô thị là một trong nhiều lĩnh vực quan trọng của công tác xây dựng đô thị.
Chức năng của nó là liên hệ các bộ phận chủ yếu của đô thị với nhau, cụ thể là các khu nhà ở, khu công nghiệp, các điểm phục vụ văn hóa sinh hoạt, thương nghiệp, các khu vực nghỉ ngơi… Giao thông đô thị có nhiệm vụ chuyên chở hành khách và hàng hóa trong đô thị với yêu cầu nhanh chóng, thuận tiện và an toàn. Thành phố hiện đại với hàng chục triệu dân và chạy dài hàng chục cây số sẽ không tồn tại được nếu như không có tổ chức giao thông. Giao thông là một trong những vấn đề quan trọng và cấp thiết nhất trong công tác xây dựng đô thị hiện nay.1 Giao thông Tp. Hồ Chí Minh ( nguồn: Internet ) Người thực hiện: Trƣơng Tấn Tài GVHD: NGND.TS Nguyễn Huy Thập 3 LUẬN VĂN THẠC SỸ Các yêu cầu của giao thông có ảnh hưởng quyết định đến việc bố trí chỗ ở, làm việc, nghỉ ngơi và phục vụ hàng ngày cho dân cư, có ảnh hưởng đến quy mô và việc tổ chức các khu công nghiệp và khu dân dụng, ảnh hưởng đến kích thước và mức độ phức tạp của các đường phố chính, quảng trường, các mối giao nhau, đến điều kiện xây dựng và trồng cây xanh cho đường phố, đến việc xây dựng các tiểu khu, các trung tâm công cộng.
Việc hiện đại hóa giao thông cho phép mở rộng quy mô thành phố. Chúng ta biết rằng, thiết kế mạng lưới giao thông và các công trình của nó cũng như thiết kế các đường phố, các mối giao nhau, các quãng trường phải dựa vào các số liệu về giao thông trong tương lai ( thường là 20 – 25 năm). Lưu lượng tính toán của dòng giao thông có ảnh hưởng quyết định đến cấu trúc của hệ thống đường chính, sự phân loại các đường phố, giải quyết các mối giao nhau cùng mức hay khác mức và các tiêu chuẩn khác. Để đánh giá chất lượng quy hoạch của thành phố, khối lượng công tác giao thông càng lớn thì đòi hỏi càng cao đối với việc quy hoạch đường phố, quãng trường và các mối giao nhau.
Quan hệ phục vụ giữa các phương tiện giao thông công cộng và giao thông cá nhân có ảnh hưởng rất lớn đến giao thông và quy hoạch thành phố. Nếu giải quyết không tốt quan hệ giữa hai loại giao thông này sẽ gây hậu quả rất tai hại là làm tăng quá mức giao thông cá nhân trong thành phố ( như ở nước ta và nhiều nước tư bản hiện nay ) buộc phải tăng mật độ đường phố và khả năng thông xe của nó lên rất nhiều, phải dành quá nhiều diện tích đất để làm chổ đỗ xe, gara và các công trình giao thông khác, làm tăng tai nạn giao thông. Người thực hiện: Trƣơng Tấn Tài GVHD: NGND.TS Nguyễn Huy Thập 4 LUẬN VĂN THẠC SỸ Hình 1.2 Quy hoạch giao thông Tp.Hồ Chí Minh đến năm 2020 ( nguồn: Internet ) 1. Phân loại và đặc điểm của phương tiện giao thông trong đô thị 1.
Phân loại phương tiện giao thông trong đô thị Phân loại các phương tiện giao thông đô thị có thể kèm theo nhiều đặc trưng. Các đặc trưng đó là chức năng sử dụng, vị trí đối với đường phố, đặc điểm xây dựng đường xe chạy, động cơ sử dụng. Theo chức năng sử dụng. Ta có thể phân thành các loại sau: Phương tiện giao thông hành khách: bao gồm ôtô buýt, xe điện bánh hơi, tàu điện, tàu điện ngầm, tàu hỏa, ôtô con, mô tô, xe hai bánh, xe đạp… Người thực hiện: Trƣơng Tấn Tài GVHD: NGND.TS Nguyễn Huy Thập 5 LUẬN VĂN THẠC SỸ Hình 1.3 Tàu điện ngầm ở Đức ( nguồn: Internet ) Phương tiện giao thông hành hóa: ôtô tải, tàu điện chở hàng, xe thô sơ… Phương tiện giao thông đặc biệt: ôtô vệ sinh, ôtô cứu hỏa, xe quét đường, xe tưới nước, xe cấp cứu… Đối với các phương tiện giao thông hành khách, tùy theo sức chứa của chúng mà phân thành hai nhóm: - Phương tiện giao thông công cộng gồm ôtô buýt, xe điện bánh hơi, tàu điện, tàu điện ngầm, tàu hỏa… - Phương tiện giao thông cá nhân gồm ôtô con, mô tô, xe máy, xe đạp, xích lô.
Đặc điểm của các phương tiện giao thông công cộng là sức chứa lớn, chuyên chở được nhiều hành khách, phục vụ cho đông đảo nhân dân thành phố, diện tích chiếm đường rất nhỏ ( tính cho một hành khách). Vì vậy các loại phương tiện giao thông công cộng cần phải giữ vai trò chủ yếu trong việc phục vụ hành khách của thành phố. Người thực hiện: Trƣơng Tấn Tài GVHD: NGND.TS Nguyễn Huy Thập 6 LUẬN VĂN THẠC SỸ Phương tiện giao thông các nhân có sức chứa nhỏ ( 1-5 hành khách) cần đóng vai trò thứ yếu trong việc chuyên chở hành khách của thành phố, hỗ trợ cho giao thông công cộng. Theo vị trí của đường xe chạy đối với đường phố Chia thành hai loại: Giao thông đường phố: tàu điện xe điện bánh hơi, ôtô, mô tô, xe máy, xe đạp, xe thô sơ.
Giao thông ngoài đường phố: tàu hỏa, tàu điện ngầm. Theo đặc điểm xây dựng đường xe chạy Chia thành hai loại: Giao thông đường ray. Giao thông không đường ray. Ngoài ra còn phân loại theo động cơ sử dụng như động cơ chạy điện, động cơ đốt trong,… Tuy nhiên, trong lĩnh vực xây dựng thành phố cần phải chú ý đến khả năng chuyên chở của phương tiện giao thông ( phụ thuộc vào sức chứa và tốc độ giao thông) và chú ý đến vị trí của đường xe chạy của chúng đối với đường phố.
Khả năng chuyên chở của một loại phương tiện giao thông nào đó là số hành khách tối đa có thể chuyên chở được trong một giờ, tại một hướng của một tuyến trong điều kiện đảm bảo an toàn. Về điều này, chúng ta thấy các phương tiện giao thông công cộng có khả năng chuyên chở rất lớn, còn các phương tiện giao thông cá nhân có khả năng chuyên chở nhỏ. Tàu hỏa, tàu điện ngầm có khả năng chuyên chở rất lớn. Tàu điện có khả năng chuyên chở cao.
Xe điện bánh hơi, ôtô buýt có khả năng chuyên chở trung bình. Ôtô con, mô tô, xe máy, xe đạp có khả năng chuyên chở thấp. Trong các thành phố hiện đại, nhất là các thành phố cực lớn, tổ chức giao thông rất phức tạp, vì phải dành một diện tích rất lớn để xây dựng các đường xe chạy, các mối giao nhau, trạm đỗ, gara, đường đi bộ… Vì vậy, trong khi giải quyết vấn đề giao thông đô thị cần phải có sự phân công hợp lý giữa các phương tiện giao thông, cụ thể là giữa các Người thực hiện: Trƣơng Tấn Tài GVHD: NGND.TS Nguyễn Huy Thập 7 LUẬN VĂN THẠC SỸ phương tiện giao thông công cộng và cá nhân, giữa các phương tiện giao thông công cộng với nhau. Đặc điểm của phương tiện giao thông a.
Ôtô buýt Là loại phương tiện giản đơn nhất, linh hoạt nhất trong các loại phương tiện giao thông công cộng tổ chức theo tuyến. Chi phí ban đầu của nó cũng đòi hỏi ít nhất. Ô tô buýt có thể chạy vào bất kỳ nơi nào của thành phố và khi cần, thay đổi tuyến một cách dễ dàng. Để tổ chức chạy xe, cần có một mạng lưới đường hợp lý, có đủ phương tiện, đủ các cơ sở sửa chữa, bảo quản, cung cấp xăng dầu.
Mật độ các tuyến ô tô buýt trong đô thị cao hơn mật độ tuyến của các phương tiện khác, thường đạt từ 2-3 km/km2. Nhược điểm của phương tiện này là giá thành vận chuyển cao. Ô tô buýt được sử dụng thích hợp tại những khu mới xây dựng, trong thời kỳ xây dựng đợt đầu của thành phố, khi số lượng hành khách còn ít. Trong các thành phố cải tạo, dùng phương tiện này cũng rất phù hợp vì có thể thay đổi hướng các tuyến một cách dễ dàng khi dòng khách thay đổi.
Tùy theo chức năng phục vụ giao thông, các tuyến ô tô buýt được chia thành các tuyến chính nội thành, tuyến phụ, tuyến ngoại thành, tuyến liên tỉnh. Các tuyến chính nội thành nối các khu vực của thành phố với các điểm đón khách lớn như nhà ga khách đường sắt, bến khách đường thủy, các công trình văn hóa thương nghiệp lớn, trung tâm thành phố… Các tuyến chính nội thành thường có các trạm đỗ cuối trong ranh giới nội thành. Chiều dài của các tuyến chính nội thành phụ thuộc vào quy mô của thành phố. Các tuyến ngoại thành liên hệ giữa thành phố với vùng ngoại ô.
Các tuyến ngoại thành thường rất dài, phụ thuộc vào tình hình bố trí dân cư ở khu vực ngoại thành. Trong các thành phố cực lớn có những tuyến ngoại thành dai tới 30 km. Các tuyến phụ đưa hành khách từ khu nhà ở, tiểu khu đến những trạm của các phương tiện có sức chở lớn hơn ( như tàu điện, tàu điện ngầm, đường sắt). Các tuyến phụ có đặc điểm là ngắn.
Người thực hiện: Trƣơng Tấn Tài GVHD: NGND.TS Nguyễn Huy Thập 8 LUẬN VĂN THẠC SỸ Sức chứa của các loại ô tô buýt thay đổi trong mốt khoảng rộng ( từ 10-80 hành khách) và có thể tăng thêm bằng cách thêm rơ moóc ( đến 130-150 hành khách). Xe điện bánh hơi Hình 1.4 Xe điện bánh hơi ở Italia ( nguồn: Internet ) Theo các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật thì phương tiện này không khác ô tô buýt lắm. Tuy nhiên, yêu cầu trang bị phức tạp hơn ô tô buýt ( trạm chỉnh lưu, dây dẫn, cột điện). Sức chứa của xe điện bánh hơi nhiều hơn ô tô buýt ( từ 60 – 90 hành khách).
Có thể tăng sức chứa bằng cách thêm rơ moóc. Phương tiện này đòi hỏi chất lượng mặt đường cao hơn so với ô tô buýt. Mặt đường phố dùng cho xe điện bánh hơi phải là mặt đường cấp cao.