phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, bao gồm 3 chƣơng chính: Chƣơng I: Tổng quan về chất lƣợng tín dụng nói chung và chất lƣợng tín dụng trung và dài hạn của các ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng II: Thực trạng tín dụng trung và dài hạn tại Ngân hàng Công thƣơng Thanh Xuân. Chƣơng III: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng tín dụng trung và dài hạn tại Ngân hàng Công thƣơng Thanh Xuân. Hà Nội, tháng 09 năm 2014 Học viên Nguyễn Trung Tâm Học viên: Nguyễn Trung Tâm (6) Khóa 2011-2013 Luận văn cao học Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách khoa Hà Nội CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG NÓI CHUNG VÀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hoá. Ngân hàng thƣơng mại (NHTM) ra đời là kết quả của một quá hình thành và phát triển lâu dài, phù hợp và gắn liền với tiến trình phát triển của nền sản xuất hàng hoá. Nó đƣợc coi là sản phẩm của nền sản xuất hàng hoá, là một bộ phận không thể tách rời và tồn tại nhƣ một tất yếu trong nền kinh tế hiện đại.
Vậy NHTM là gì? Nó hoạt động nhƣ thế nào? Chức năng của nó là gì? Xung quanh vấn đề này có rất nhiều quan diểm khác nhau. Theo quan điểm của các nhà kinh tế học trên thế giới thì NHTM là một doanh nghiệp hoạt động và kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và tín dụng.Rose: ''Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dich vụ tài chính da dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và các dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế''. Theo luật các tổ chức tín dụng của Nƣớc Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam: ''Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thƣờng xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán''. Chức năng của NHTM : - Ngân hàng thƣơng mại là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tƣ, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế: (1) các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tƣ vƣợt quá thu nhập và vì thế họ là những ngƣời cần bổ sung vốn.
Học viên: Nguyễn Trung Tâm (7) Khóa 2011-2013 Luận văn cao học Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách khoa Hà Nội (2) các cá nhân và tổ chức thặng dƣ trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hoá, dịch vụ. Và do vậy họ có tiền để tiết kiệm sự tồn tại hai loại cá nhân và tổ chức trên hoàn toàn độc lập với ngân hàng. Điều tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ hai sang nhóm thứ nhất nếu cả hai cùng có lợi. NHTM đã thực hiện chức năng này, do vậy nó đã làm tăng tiết kiệm cho việc đầu tƣ ngoài ra nó còn cung cấp những thông tin cụ thể quan trọng chính xác và đối xứng.
- NHTM có khả năng tạo phƣơng tiện thanh toán: Theo quan điểm hiện đại, đại lƣợng tiền tệ bao gồm nhiều bộ phận. Thứ nhất là tiền giấy trong lƣu thông (Mo). Thứ hai là số dƣ trên tài khoản tiền gửi giao dịch của khách hàng tại ngân hàng. Thứ ba là tiền gửi trên các tài khoản, tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn Khi ngân hàng (NH) cho vay, số dƣ trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng (KH) tăng lên, KH có thể mua hàng hoá và dịch vụ.
Do đó, bằng việc cho vay (hay tạo tín dụng), các NH đã tạo ra phƣơng tiện thanh toán (tham gia tạo M1. Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo phƣơng tiện thanh toán khi các khoản tiền gửi đƣợc mở rộng từ NH này đến NH khác trên cơ sở cho vay). Khi KH tại một NH sử dụng khoản tiền vay để chi trả thì tạo nên khoản thu (tức làm tăng số dƣ tiền gửi) của một KH khác tại một NH khác từ đó tạo ra các khoản cho vay mới. Trong khi không một NH riêng lẻ nào có thể cho vay lớn hơn dự trữ dƣ thừa, toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể tạo ra khối lƣợng tiền gửi (tạo phƣơng tiện thanh toán) gấp bội thông qua hoạt động cho vay (tạo tín dụng).
- NHTM là một trung gian thanh toán: NH trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các quốc gia. Thay mặt KH, NH thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá và dịch vụ. Để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, NH đƣa ra cho KH nhiều hình thức thanh toán nhƣ thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ… cung cấp mạng lƣới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi KH cần. Các NH còn thực hiện thanh toán bù trừ với nhau thông qua NH Trung ƣơng hoặc thông qua các trung tâm thanh toán.
Học viên: Nguyễn Trung Tâm (8) Khóa 2011-2013 Luận văn cao học Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách khoa Hà Nội 1. Hoạt động cơ bản của NHTM 1. Huy động vốn Đây là nghiệp vụ đầu tiên, là sự khởi tạo cho hoạt động của NH. Cho vay đƣợc coi là hoạt động sinh lời cao do đó các NH đã tìm kiếm mọi cách để huy động vốn cho vay với chức năng này, NH đóng vai trò là nhân tố tập hợp các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội thông qua các hình thức: - Nhận tiền gửi của các cá nhân và tổ chức kinh tế.
Đây là nguồn tiền chiếm tỷ lệ chủ yếu trong cơ cấu nguồn vốn huy động của NH. - Nguồn đi vay: Trong quá trình kinh doanh, đôi khi NHTM có thể cũng lâm vào tình trạng thiếu hụt vốn tạm thời để đáp ứng nhu cầu thanh toán chi trả hay nhu cầu vay vốn của khách hàng. NHTM có thể vay ngân hàng Nhà nƣớc (NHNN), vay các tổ chức tín dụng khác, vay trên thị trƣờng liên ngân hàng… đây là nguồn vốn rất cần thiết và quan trọng, vì nó đáp ứng đƣợc kịp thời và đảm bảo cho hoạt động của NH diễn ra một cách liên tục.2 Hoạt động sử dụng vốn Vốn huy động đƣợc sẽ đƣợc NH đầu tƣ vào các khoản mục tài sản khác nhau, nhằm đạt đƣợc mục tiêu mà NH đề ra. Nhìn chung sẽ đƣợc sử dụng vào các hoạt động sau: - Hoạt động tín dụng: hoạt động này đem lại lợi nhuận chủ yếu cho các NH, nó chiếm tỷ trọng chủ yếu và là hoạt động cơ bản của một NH.
Tuy nhiên nó lại chứa đựng nhiều rủi ro, ảnh hƣởng quan trọng đến hoạt động của NH. - Các hoạt động đầu tƣ khác: Hoạt động này rất đa dạng và góp phần làm tăng thêm thu nhập cho các NH. Đó là hình thức NH tham gia vào hoạt động góp vốn, mua cổ phần của các công ty, liên doanh liên kết, mua bán chứng khoán, cổ phiếu, trái phiếu nhằm đa dạng hóa danh mục đầu tƣ, giảm thiểu rủi ro, đem lại nhiều lợi nhuận cho các NH. Các hoạt động khác NHTM thực hiện các ủy nhiệm của khách hàng trong giao dịch thanh toán, chuyển tiền, thu hộ, tƣ vấn , môi giới và nhận một khoản thu nhập về việc làm trung gian đó.
Học viên: Nguyễn Trung Tâm (9) Khóa 2011-2013 Luận văn cao học Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách khoa Hà Nội 1. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm và phân loại tín dụng - Khó có thể đƣa ra một định nghĩa rõ ràng về tín dụng. Vì vậy tùy theo góc độ nghiên cứu mà ta có thể xác định nội dung của thuật ngữ này.
Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng ƣợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau; ngay cả trong quan hệ tài chính, tùy theo từng bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín dụng có một nội dung riêng. Trong quan hệ tài chính, tín dụng có thể hiểu theo các nghĩa sau: + Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dƣ tiết kiệm sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng đƣợc coi là phƣơng pháp chuyển dịch quỹ từ ngƣời cho vay sang ngƣời đi vay. + Trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể. Nhƣ một công ty công nghiệp hoặc thƣơng mại bán hàng trả chậm cho một công ty khác, trong trƣờng hợp này ngƣời bán chuyển giao hàng hóa cho bên mua và sau một thời gian nhất định theo thỏa thuận bên mua phải trả tiền cho bên bán.
Phổ biến hơn cả là giao dịch giữa NH và các tổ chức tài chính khác với các doanh nghiệp và cá nhân thể hiện dƣới hình thức cho vay, tức là NH cấp tiền vay cho bên đi vay và sau một thời hạn nhất định ngƣời đi vay phải thanh toán vốn gốc và lãi. Tín dụng còn có nghĩa là một số tiền cho vay mà các định chế tài chính cung cấp cho khách hàng. Trong một số ngữ cảnh cụ thể thuật ngữ tín dụng đồng nghĩa với thuật ngữ cho vay. Trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của NH thì tín dụng đƣợc hiểu nhƣ sau: Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (NH và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên đi vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Học viên: Nguyễn Trung Tâm ( 10 ) Khóa 2011-2013 Luận văn cao học Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Từ khái niệm trên, bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả và có các đặc trƣng sau: Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng bao gồm hai hình thức là cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản).