Luận văn: Chất lượng tín dụng cho vay hộ nghèo tại NHCSXH Ba Tơ, Quảng Ngãi

Luận văn phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng cho vay hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Ba Tơ, Quảng Ngãi.

Trường đại học

Trường Đại học Duy Tân

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

108
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI

1.1. KHÁI QUÁT VỀ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO CỦA NHCSXH

1.1.1. Hộ nghèo và sự cần thiết phải xóa đói, giảm nghèo

1.1.2. Ngân hàng Chính sách xã hội và vai trò của tín dụng Ngân hàng Chính sách xã hội đối với người nghèo

1.2. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO TẠI NHCSXH

1.2.1. Tổ chức bộ máy, nhân lực cho hoạt động tín dụng

1.2.2. Quy trình tín dụng

1.2.3. Nguồn vốn cho vay hộ nghèo

1.2.4. Điều kiện, thủ tục vay vốn, dư nợ tín dụng cho vay hộ nghèo

1.2.5. Thu lãi và phân phối lãi cho các bên tham gia

1.3. CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO

1.3.1. Tỷ lệ hộ nghèo vay vốn

1.3.2. Tỷ lệ hộ nghèo vay vốn thoát nghèo hàng năm

1.3.3. Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ

1.3.4. Tỷ lệ nợ khoanh thu hồi được

1.3.5. Tỷ lệ thu lãi (%)

1.3.6. Vòng quay vốn tín dụng

1.4. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO

1.4.1. Nhân tố chủ quan

1.4.2. Nhân tố khách quan

1.5. KINH NGHIỆM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO TẠI MỘT SỐ NHCSXH VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO NHCSXH HUYỆN BA TƠ, TỈNH QUẢNG NGÃI

1.5.1. Kinh nghiệm của Phòng giao dịch NHCSXH huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên

1.5.2. Kinh nghiệm của Phòng giao dịch NHCSXH huyện An Lão, tỉnh Bình Định

1.5.3. Kinh nghiệm của Phòng giao dịch NHCSXH huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam

1.5.4. Bài học kinh nghiệm đối với Phòng giao dịch NHCSXH huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi

1.6. Kết luận Chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO TẠI PHÒNG GIAO DỊCH NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HUYỆN BA TƠ, TỈNH QUẢNG NGÃI

2.1. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ PHÒNG GIAO DỊCH NHCSXH HUYỆN BA TƠ, TỈNH QUẢNG NGÃI

2.1.1. Tổng quan tình hình kinh tế xã hội huyện Ba Tơ

2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển

2.1.3. Chức năng, nhiệm vụ

2.1.4. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý

2.1.5. Tình hình một số hoạt động của Phòng giao dịch NHCSXH huyện Ba Tơ

2.2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO TẠI PHÒNG GIAO DỊCH NHCSXH HUYỆN BA TƠ, TỈNH QUẢNG NGÃI

2.2.1. Tổ chức bộ máy, nhân lực cho hoạt động tín dụng

2.2.2. Quy trình cho vay

2.2.3. Nguồn vốn cho vay hộ nghèo tại Phòng giao dịch NHCSXH huyện Ba Tơ

2.2.4. Điều kiện, thủ tục vay vốn

2.2.5. Dư nợ tín dụng cho vay hộ nghèo

2.2.6. Thu lãi và phân phối lãi cho các bên tham gia

2.3. THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CHO VAY HỘ NGHÈO

2.3.1. Thực trạng dư nợ cho vay hộ nghèo

2.3.2. Thực trạng tỷ lệ hộ nghèo vay vốn

2.3.3. Thực trạng hộ thoát nghèo hàng năm

2.3.4. Thực trạng nợ quá hạn hộ nghèo

2.3.5. Vòng quay vốn tín dụng

2.3.6. Thu lãi từ hoạt động cho vay hộ nghèo

2.4. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CHO VAY HỘ NGHÈO TẠI PHÒNG GIAO DỊCH NHCSXH HUYỆN BA TƠ, TỈNH QUẢNG NGÃI

2.4.1. Những kết quả đạt được

2.4.2. Những tồn tại và hạn chế

2.4.3. Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế

2.5. Kết luận Chương 2

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CHO VAY HỘ NGHÈO TẠI PHÒNG GIAO DỊCH NHCSXH HUYỆN BA TƠ, TỈNH QUẢNG NGÃI

3.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ MỤC TIÊU HOẠT ĐỘNG CỦA PHÒNG GIAO DỊCH NHCSXH HUYỆN BA TƠ, TỈNH QUẢNG NGÃI ĐẾN NĂM 2025

3.1.1. Định hướng phát triển

3.1.2. Mục tiêu hoạt động

3.2. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO TẠI NHCSXH HUYỆN BA TƠ, TỈNH QUẢNG NGÃI

3.2.1. Giải pháp công tác huy động vốn

3.2.2. Nhóm giải pháp về công tác kiểm tra, giám sát

3.2.3. Giải pháp về quy định cho vay đối với hộ nghèo

3.2.4. Giải pháp đối với các Hội, đoàn thể nhận ủy thác tín dụng ưu đãi

3.2.5. Giải pháp đối với hoạt động của Tổ Tiết kiệm và vay vốn

3.2.6. Tăng cường công tác tuyên truyền, hướng dẫn người nghèo vay vốn biết cách làm ăn

3.2.7. Giải pháp trong công tác thu hồi nợ đến hạn và quá hạn

3.2.8. Giải pháp công tác đào tạo cho cán bộ Phòng giao dịch NHCSXH và đội ngũ cán bộ làm công tác ủy thác

3.2.9. Hoàn thiện mạng lưới hoạt động tại điểm giao dịch tại xã

3.2.10. Đối với NHCSXH Việt Nam và Chi nhánh NHCSXH tỉnh Quảng Ngãi

3.2.11. Đối với Ban đại diện HĐQT cấp huyện

3.2.12. Đối với Cấp ủy, chính quyền địa phương và các tổ chức Chính trị xã hội

3.3. Kết luận Chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tín dụng hộ nghèo Tổng quan và vai trò giảm nghèo bền vững

Tín dụng cho vay hộ nghèo là một trụ cột quan trọng trong chiến lược an sinh xã hộigiảm nghèo bền vững của quốc gia. Đây không chỉ là hoạt động cấp vốn đơn thuần, mà còn là một công cụ kinh tế - xã hội mang tính nhân văn sâu sắc, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước. Mục tiêu chính là tạo điều kiện cho các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, thiếu vốn sản xuất nhưng có sức lao động, có thể tiếp cận nguồn vốn ưu đãi để phát triển kinh tế, cải thiện đời sống và từng bước thoát nghèo. Luận văn thạc sĩ của Trần Thanh Hoàng (2021) đã chỉ rõ, nghèo đói là rào cản lớn đối với sự phát triển, gây mất ổn định xã hội và làm chậm quá trình công nghiệp hóa. Do đó, việc cung cấp chính sách tín dụng ưu đãi thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội (VBSP) đóng vai trò then chốt. Nguồn vốn này giúp người nghèo có cơ hội đầu tư vào sản xuất, kinh doanh, mua sắm tư liệu sản xuất, áp dụng khoa học kỹ thuật mới, từ đó tăng thu nhập. Hoạt động này còn góp phần hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi ở nông thôn, một vấn nạn đẩy người dân vào vòng luẩn quẩn nợ nần. Hơn nữa, quá trình vay và trả nợ giúp nâng cao nhận thức của người dân về quản lý tài chính, hoạch định sản xuất và tiếp cận thị trường. Việc triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng cho vay hộ nghèo không chỉ đảm bảo an toàn vốn cho ngân hàng mà còn tối đa hóa hiệu quả của nguồn vốn, đảm bảo vốn được sử dụng vốn vay đúng mục đích và thực sự mang lại sự thay đổi tích cực cho cộng đồng.

1.1. Vai trò của Ngân hàng Chính sách xã hội VBSP

Theo Nghị định 78/2002/NĐ-CP, Ngân hàng Chính sách xã hội (VBSP) được thành lập với sứ mệnh thực thi các chính sách tín dụng ưu đãi của Chính phủ. VBSP hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, là cầu nối trực tiếp đưa nguồn vốn chính sách đến với hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo. Đặc điểm nổi bật của VBSP là mạng lưới rộng khắp, với các điểm giao dịch đặt tại xã, phường, giúp người dân dễ dàng tiếp cận. Mô hình cho vay của VBSP mang tính đặc thù, chủ yếu thông qua phương thức ủy thác cho các tổ chức chính trị - xã hội như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh và Đoàn Thanh niên. Mô hình này tận dụng được mạng lưới cơ sở và sự gần gũi của các tổ chức này để thực hiện các công việc như bình xét cho vay, đôn đốc trả nợ, và giám sát vốn vay. Điều này không chỉ tiết kiệm chi phí quản lý cho ngân hàng mà còn tăng cường sự gắn kết cộng đồng và trách nhiệm của các bên liên quan.

1.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng then chốt

Chất lượng tín dụng là yếu tố sống còn, phản ánh hiệu quả và sự bền vững của hoạt động cho vay. Việc đánh giá không chỉ dựa vào các con số tài chính mà còn cả tác động xã hội. Các chỉ tiêu chính bao gồm: Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ, đây là chỉ số quan trọng nhất thể hiện rủi ro tín dụng. Tỷ lệ thu lãi, phản ánh khả năng tạo thu nhập và kỷ luật tài chính của người vay. Vòng quay vốn tín dụng, đo lường tốc độ luân chuyển vốn. Bên cạnh đó, các chỉ tiêu mang tính xã hội cũng được đặc biệt quan tâm, như: Tỷ lệ hộ nghèo được tiếp cận vốn vay và Tỷ lệ hộ vay vốn thoát nghèo hàng năm. Các chỉ tiêu này giúp đo lường mức độ thành công của chương trình trong việc thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững và đảm bảo an sinh xã hội. Việc theo dõi sát sao các chỉ số này là cơ sở để đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng cho vay hộ nghèo một cách kịp thời và hiệu quả.

II. Thực trạng chất lượng tín dụng và những rào cản cần vượt qua

Phân tích thực trạng tại Phòng giao dịch NHCSXH huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2017-2019 (Trần Thanh Hoàng, 2021) cho thấy hoạt động tín dụng chính sách đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Tỷ lệ hộ nghèo được vay vốn đạt mức cao, bình quân trên 80%, góp phần quan trọng vào chương trình giảm nghèo của địa phương. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, chất lượng tín dụng vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức và tồn tại. Vấn đề nổi cộm là tình trạng nợ quá hạnnợ xấu hộ nghèo vẫn còn tồn tại, gây áp lực lên việc bảo toàn và quay vòng vốn. Một bộ phận không nhỏ hộ vay vẫn chưa thoát nghèo bền vững, thậm chí có nguy cơ tái nghèo sau nhiều chu kỳ vay vốn. Nguyên nhân của những hạn chế này mang tính hệ thống, bao gồm cả yếu tố chủ quan từ ngân hàng và khách quan từ phía người vay cũng như môi trường kinh tế - xã hội. Việc sử dụng vốn vay đúng mục đích chưa được đảm bảo tuyệt đối, công tác giám sát vốn vay sau giải ngân còn bộc lộ nhiều kẽ hở. Khả năng trả nợ của nhiều hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi thiên tai, dịch bệnh, biến động giá cả thị trường nông sản và trình độ sản xuất còn hạn chế. Nhận diện rõ những rào cản này là bước đi đầu tiên và quan trọng nhất để xây dựng các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng cho vay hộ nghèo một cách toàn diện và thực chất, hướng tới mục tiêu tài chính toàn diện.

2.1. Phân tích thực trạng nợ quá hạn và nợ xấu hộ nghèo

Số liệu tại Phòng giao dịch NHCSXH huyện Ba Tơ cho thấy, mặc dù tỷ lệ nợ quá hạn được kiểm soát ở mức chấp nhận được nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro tín dụng. Bảng 2.8 trong luận văn của Trần Thanh Hoàng chỉ ra dư nợ quá hạn hộ nghèo năm 2019 là 54 triệu đồng. Nguyên nhân chính dẫn đến nợ xấu hộ nghèo rất đa dạng. Một phần do rủi ro khách quan như thiên tai, dịch bệnh làm mất mùa, vật nuôi chết. Phần khác xuất phát từ nguyên nhân chủ quan như một số hộ vay sử dụng vốn sai mục đích, đầu tư không hiệu quả, hoặc thiếu ý thức trả nợ. Một số trường hợp còn có tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào chính sách hỗ trợ của Nhà nước. Việc xử lý các khoản nợ này gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa ngân hàng, chính quyền địa phương và các tổ chức nhận ủy thác. Đây là thách thức lớn đối với việc đảm bảo an toàn vốn và tính bền vững của chương trình.

2.2. Các nguyên nhân ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của người vay

Khả năng trả nợ của hộ nghèo phụ thuộc vào nhiều yếu tố phức tạp. Về mặt khách quan, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, thị trường nông sản bấp bênh, thiếu sự liên kết trong sản xuất và tiêu thụ là những rào cản lớn. Về mặt chủ quan, trình độ dân trí, kiến thức làm ăn và kinh nghiệm quản lý vốn của nhiều hộ vay còn rất hạn chế. Họ thường sản xuất theo lối mòn, manh mún, ngại thay đổi và áp dụng kỹ thuật mới. Bên cạnh đó, công tác thẩm định tín dụng ban đầu đôi khi chưa đánh giá hết các rủi ro tiềm ẩn. Phương án sản xuất kinh doanh do hộ vay lập ra còn mang tính hình thức, chưa khả thi. Sự thiếu hụt các chương trình hỗ trợ kỹ thuật, khuyến nông đi kèm với nguồn vốn tín dụng cũng làm giảm hiệu quả sử dụng vốn, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng trả nợ và làm gia tăng rủi ro tín dụng.

III. Top giải pháp nâng cao tín dụng Tối ưu quy trình nghiệp vụ

Để giải quyết các thách thức hiện hữu, việc cải tiến và tối ưu hóa quy trình nghiệp vụ là nhóm giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng cho vay hộ nghèo mang tính nền tảng. Các giải pháp này tập trung vào việc siết chặt quản lý từ bên trong hệ thống ngân hàng, từ khâu đầu vào đến khâu cuối cùng của một chu trình tín dụng. Mục tiêu là phòng ngừa rủi ro tín dụng ngay từ đầu, đồng thời có cơ chế xử lý hiệu quả khi vấn đề phát sinh. Một quy trình chuyên nghiệp, chặt chẽ không chỉ giúp bảo vệ an toàn vốn mà còn nâng cao trách nhiệm của cả cán bộ tín dụng và người vay. Theo đó, cần tập trung hoàn thiện công tác thẩm định tín dụng, đảm bảo các khoản vay được phê duyệt dựa trên phương án sản xuất khả thi và năng lực thực tế của hộ vay, thay vì chỉ dựa trên tiêu chí hộ nghèo. Song song đó, công tác giám sát vốn vay cần được thực hiện thường xuyên và thực chất hơn, không chỉ là kiểm tra trên giấy tờ mà phải đi sâu, đi sát thực tế sử dụng vốn. Cuối cùng, cần xây dựng một quy trình xử lý nợ quá hạn và thu hồi nợ một cách quyết liệt nhưng cũng hợp tình, hợp lý, phân loại rõ nguyên nhân để có biện pháp phù hợp, tránh để nợ xấu kéo dài, ảnh hưởng đến cả danh mục cho vay.

3.1. Hoàn thiện quy trình thẩm định tín dụng và xét duyệt

Quy trình thẩm định tín dụng là "cửa ngõ" đầu tiên quyết định chất lượng khoản vay. Cần nâng cao chất lượng của khâu này bằng cách đào tạo chuyên sâu cho cán bộ tín dụng, đặc biệt là kỹ năng phân tích, đánh giá phương án sản xuất kinh doanh của hộ nghèo. Việc thẩm định không chỉ dừng lại ở việc xác minh tư cách hộ nghèo mà phải đi sâu vào đánh giá nhu cầu vốn thực tế, tính khả thi của dự án, kinh nghiệm của người vay và các yếu tố rủi ro tiềm tàng. Cần xây dựng một hệ số tín nhiệm nội bộ đơn giản, phù hợp với đối tượng hộ nghèo để làm cơ sở tham khảo khi ra quyết định. Quá trình bình xét vay vốn tại cơ sở thông qua tổ tiết kiệm và vay vốn cũng cần được giám sát chặt chẽ hơn để đảm bảo tính công khai, minh bạch, tránh tình trạng nể nang, thiên vị, lựa chọn đúng đối tượng có ý chí và phương án làm ăn hiệu quả.

3.2. Tăng cường hiệu quả giám sát vốn vay sau giải ngân

Giám sát vốn vay sau giải ngân là một khâu cực kỳ quan trọng nhưng thường bị xem nhẹ. Để nâng cao hiệu quả, cần xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát định kỳ và đột xuất đối với 100% các khoản vay. Cán bộ ngân hàng phải phối hợp chặt chẽ với cán bộ Hội, đoàn thể cấp xã và Ban quản lý tổ tiết kiệm và vay vốn để nắm bắt tình hình sử dụng vốn vay đúng mục đích. Việc kiểm tra cần tập trung vào tiến độ triển khai dự án, các khó khăn, vướng mắc mà hộ vay gặp phải để có biện pháp hỗ trợ kịp thời. Khi phát hiện trường hợp sử dụng vốn sai mục đích, cần có biện pháp chấn chỉnh, thậm chí là thu hồi nợ trước hạn để ngăn chặn rủi ro. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và cảnh báo sớm các khoản vay có vấn đề cũng là một hướng đi cần được xem xét.

IV. Phương pháp nâng cao tín dụng qua phối hợp đa bên hiệu quả

Chất lượng tín dụng cho vay hộ nghèo không chỉ là trách nhiệm của riêng ngành ngân hàng mà đòi hỏi sự chung tay của cả hệ thống chính trị và cộng đồng. Một trong những phương pháp nâng cao chất lượng tín dụng cho vay hộ nghèo hiệu quả nhất chính là xây dựng và củng cố cơ chế phối hợp đa bên. Mô hình cho vay đặc thù của VBSP dựa trên nền tảng ủy thác cho các tổ chức chính trị - xã hội và hoạt động của các tổ tiết kiệm và vay vốn (TK&VV). Do đó, nâng cao năng lực và vai trò của các đối tác này là nhiệm vụ cốt lõi. Cần xác định rõ trách nhiệm, quyền lợi và có cơ chế giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của từng đơn vị nhận ủy thác. Bên cạnh đó, cần lồng ghép chương trình tín dụng với các chương trình khuyến nông, khuyến công, chuyển giao khoa học kỹ thuật. Việc cung cấp vốn phải đi đôi với việc cung cấp "cần câu" là kiến thức, kỹ năng sản xuất. Chỉ khi người vay được trang bị đầy đủ công cụ, khả năng trả nợ của họ mới được cải thiện một cách bền vững. Sự phối hợp đồng bộ sẽ tạo ra một hệ sinh thái hỗ trợ toàn diện, giúp hộ nghèo không chỉ tiếp cận vốn mà còn sử dụng vốn hiệu quả, góp phần vào mục tiêu phát triển kinh tế địa phương.

4.1. Nâng cao vai trò của tổ tiết kiệm và vay vốn TK VV

Tổ tiết kiệm và vay vốn là "cánh tay nối dài" của ngân hàng tại cơ sở, là nơi diễn ra các hoạt động cốt lõi như bình xét cho vay, thu lãi, thu tiết kiệm. Để nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ này, cần thường xuyên tổ chức tập huấn, đào tạo cho Ban quản lý tổ về nghiệp vụ ngân hàng, kỹ năng quản lý, phương pháp kiểm tra, giám sát. Cần quy định rõ hơn về trách nhiệm của tổ trong việc đôn đốc thành viên sử dụng vốn vay đúng mục đích và trả nợ đúng hạn. Đồng thời, cần có chính sách động viên, khen thưởng kịp thời đối với các tổ hoạt động tốt, có tỷ lệ nợ quá hạn thấp và chất lượng tín dụng cao. Việc củng cố các tổ yếu kém, thay thế các tổ trưởng không đủ năng lực là biện pháp cần thiết để làm trong sạch và nâng cao hiệu quả của toàn mạng lưới.

4.2. Tối ưu mô hình ủy thác với các tổ chức chính trị xã hội

Các tổ chức chính trị - xã hội (Hội Nông dân, Phụ nữ...) đóng vai trò trung gian quan trọng. Để tối ưu mô hình này, cần có cơ chế gắn kết chặt chẽ hơn giữa phí dịch vụ ủy thác với chất lượng tín dụng của danh mục do tổ chức đó quản lý. Điều này sẽ tạo động lực để các Hội, đoàn thể tích cực hơn trong việc giám sát vốn vay, đôn đốc thu hồi nợ và tham gia xử lý nợ xấu hộ nghèo. Các buổi giao ban định kỳ giữa ngân hàng và các tổ chức nhận ủy thác cần được duy trì và nâng cao chất lượng, trở thành nơi trao đổi thông tin, tháo gỡ khó khăn và thống nhất các giải pháp hành động cụ thể. Kinh nghiệm từ NHCSXH Bắc Trà My cho thấy việc giao ban định kỳ giúp giải quyết kịp thời các tồn tại, là một trong những giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng cho vay hộ nghèo rất hiệu quả.

V. Bài học kinh nghiệm nâng cao tín dụng từ các mô hình thực tiễn

Nghiên cứu các mô hình thành công tại các địa phương khác mang lại những bài học kinh nghiệm quý báu có thể áp dụng để nâng cao chất lượng tín dụng cho vay hộ nghèo. Luận văn của Trần Thanh Hoàng (2021) đã phân tích kinh nghiệm từ các Phòng giao dịch NHCSXH huyện Đồng Xuân (Phú Yên), An Lão (Bình Định) và Bắc Trà My (Quảng Nam). Mỗi đơn vị có một thế mạnh riêng nhưng tựu trung lại đều có những điểm chung cốt lõi. Đó là sự chủ động, quyết liệt trong công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương; sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ với các tổ chức nhận ủy thác; và đặc biệt là việc đặt công tác kiểm tra, giám sát lên hàng đầu. Các mô hình này cho thấy, chất lượng tín dụng không tự nhiên mà có, nó là kết quả của một quá trình quản lý khoa học, có kế hoạch và sự vào cuộc của cả hệ thống. Việc học hỏi không phải là sao chép máy móc mà là chắt lọc những gì phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương mình. Những kinh nghiệm này là minh chứng sống động cho thấy khi có phương pháp đúng, những thách thức như nợ quá hạn, rủi ro tín dụng hoàn toàn có thể được kiểm soát, góp phần thực hiện thành công mục tiêu giảm nghèo bền vững.

5.1. Kinh nghiệm từ NHCSXH Đồng Xuân Chú trọng giám sát nội bộ

Bài học từ NHCSXH Đồng Xuân nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát nội bộ. Đơn vị này xây dựng kế hoạch giám sát cụ thể và tổ chức thực hiện tại 100% các xã, thị trấn. Việc giám sát không chỉ nhằm vào hộ vay mà còn tập trung vào hoạt động của các đơn vị nhận ủy thác và các tổ tiết kiệm và vay vốn. Qua đó, ngân hàng kịp thời phát hiện và chấn chỉnh những sai sót trong quy trình, nâng cao trách nhiệm của các bên liên quan. Kết quả là chất lượng hoạt động của các tổ TK&VV được nâng lên rõ rệt, không có tổ xếp loại yếu, kém. Điều này chứng tỏ giám sát vốn vay một cách thường xuyên, toàn diện là chìa khóa để ngăn ngừa rủi ro tín dụng từ sớm.

5.2. Kinh nghiệm từ NHCSXH An Lão Phối hợp xử lý nợ quá hạn

NHCSXH An Lão lại là một điển hình về sự phối hợp hiệu quả với chính quyền địa phương và các Hội, đoàn thể trong công tác thu hồi và xử lý nợ quá hạn. Khi có nợ quá hạn phát sinh, một tổ công tác liên ngành được thành lập để trực tiếp làm việc với hộ vay, phân tích nguyên nhân và đưa ra giải pháp. Đối với các trường hợp chây ỳ, đơn vị kiên quyết đưa ra pháp luật xử lý. Đối với các trường hợp do rủi ro khách quan, hồ sơ được lập nhanh chóng để trình cấp trên xem xét khoanh nợ, xóa nợ. Cách làm quyết liệt và đồng bộ này không chỉ giúp thu hồi nợ hiệu quả, giảm tỷ lệ nợ quá hạn xuống mức rất thấp (0,09%) mà còn có tác dụng răn đe, nâng cao ý thức trả nợ của toàn bộ khách hàng trên địa bàn.

VI. Định hướng tương lai cho hoạt động tín dụng hộ nghèo bền vững

Để hoạt động tín dụng chính sách phát huy hiệu quả tối đa và bền vững trong dài hạn, cần có một định hướng chiến lược rõ ràng. Tương lai của tín dụng cho vay hộ nghèo không chỉ dừng lại ở việc cấp vốn, mà phải hướng tới mục tiêu tài chính toàn diện. Điều này có nghĩa là cung cấp một bộ sản phẩm, dịch vụ tài chính đa dạng hơn cho người nghèo, bao gồm tiết kiệm, chuyển tiền, bảo hiểm vi mô, bên cạnh hoạt động cho vay. Việc đa dạng hóa dịch vụ sẽ giúp người nghèo quản lý tài chính tốt hơn, tăng cường khả năng chống chịu trước các cú sốc và tạo nền tảng vững chắc để thoát nghèo. Đồng thời, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý và các chính sách tín dụng ưu đãi để phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội mới. Các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng cho vay hộ nghèo đã đề ra cần được triển khai một cách nhất quán và liên tục. Cần tăng cường ứng dụng công nghệ số vào quy trình nghiệp vụ để tăng tính minh bạch, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả quản lý. Cuối cùng, mục tiêu cao nhất vẫn là giúp người nghèo tự vươn lên, sử dụng vốn hiệu quả để cải thiện sinh kế, đóng góp vào sự phát triển kinh tế địa phương và xây dựng một xã hội công bằng, không ai bị bỏ lại phía sau.

6.1. Mục tiêu phát triển tài chính toàn diện đến năm 2025

Định hướng phát triển của VBSP đến năm 2025 và xa hơn là xây dựng một hệ thống tài chính toàn diện, bền vững cho người nghèo và các đối tượng yếu thế khác. Thay vì chỉ là một kênh cấp phát vốn, ngân hàng sẽ trở thành một nhà cung cấp dịch vụ tài chính đa dạng. Các sản phẩm tiết kiệm linh hoạt sẽ được khuyến khích để giúp người dân hình thành thói quen tích lũy, tạo nguồn vốn tự có và dự phòng rủi ro. Các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt sẽ được phát triển để tạo thuận lợi cho giao dịch. Việc lồng ghép các sản phẩm tài chính vi mô khác như bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm y tế... sẽ giúp bảo vệ thành quả lao động của người dân trước những biến cố bất thường, qua đó nâng cao khả năng trả nợ một cách gián tiếp.

6.2. Kiến nghị hoàn thiện chính sách tín dụng ưu đãi của Nhà nước

Để các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng cho vay hộ nghèo phát huy hiệu quả, cần có sự hỗ trợ từ chính sách vĩ mô. Cần kiến nghị Chính phủ và các bộ, ngành liên quan tiếp tục hoàn thiện chính sách tín dụng ưu đãi. Cụ thể, cần xem xét điều chỉnh định mức cho vay linh hoạt hơn, phù hợp với nhu cầu sản xuất thực tế của từng ngành nghề, từng vùng miền. Cơ chế xử lý rủi ro do nguyên nhân khách quan cần được quy định rõ ràng, đơn giản hóa thủ tục để hỗ trợ người dân kịp thời. Ngoài ra, cần có chính sách khuyến khích mạnh mẽ hơn nữa việc lồng ghép tín dụng ưu đãi với các chương trình khuyến nông, đào tạo nghề và xúc tiến thương mại, tạo ra một chuỗi giá trị hỗ trợ đồng bộ từ đầu vào đến đầu ra cho sản phẩm của người nghèo.

01/10/2025
Luận văn thạc sĩ nâng cao chất lượng tín dụng đối với cho vay hộ nghèo tại phòng giao dịch ngân hàng chính sách xã hội huyện ba tơ tỉnh quảng

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1. KHÁI QUÁT VỀ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO CỦA NHCSXH 1. Hộ nghèo và sự cần thiết phải xóa đói, giảm nghèo 1. Khái niệm hộ nghèo Tình trạng nghèo đói ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau về cấp độ và số lượng, thay đổi theo thời gian.

Người nghèo của quốc gia này có thể có mức sống cao hơn mức sống trung bình của quốc gia khác. Bởi vậy, để nhìn nhận và đánh giá được tình trạng đói nghèo của một quốc gia, một vùng và nhận dạng được hộ đói nghèo, để từ đó có giải pháp phù hợp để xóa đói giảm nghèo (XĐGN), đòi hỏi chúng ta phải có sự thống nhất về khái niệm và các tiêu chí để đánh giá đói nghèo tại từng thời điểm. Ở nước ta trong những năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, bên cạnh sự tăng thu nhập và nâng cao đời sống của số đông dân chúng, vẫn tồn tại một bộ phận dân chúng sống nghèo khổ, đặc biệt là những hộ nông dân nghèo sống tập trung ở các vùng nông thôn, miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa… Chính vì vậy, trong xã hội sự phân hóa giàu nghèo đang diễn ra ngày một sâu sắc, khoảng cách giàu, nghèo ngày càng rộng.

Đây là một thách thức lớn đặt ra đòi hỏi phải có những chính sách và giải pháp phù hợp, đi đôi với phát triển kinh tế - xã hội phải thực hiện thành công chương trình, mục tiêu quốc gia về XĐGN. Muốn XĐGN bền vững thì đầu tiên phải trả lời được câu hỏi: Quan niệm thế nào là nghèo? Người nghèo, hộ nghèo là ai? Vì sao họ nghèo? Để trả lời được câu hỏi này chính xác, phải hiểu rõ bản chất và nội dung của đói nghèo. Phải khẳng định rằng không có định nghĩa duy nhất về nghèo, đói. Việt Nam thừa nhân định nghĩa chung về nghèo, đói tại Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan tháng 9/1993: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các 9 nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục, tập quán của địa phương”.“Đói là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức sống tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống”.

Có thể xem đây là định nghĩa chung nhất về nghèo đói, trong đó các tiêu chí và chuẩn mực đánh giá về nghèo đói còn để ngỏ về mặt lượng hóa. Bởi nó chưa tính đến những khác biệt và độ chênh lệch giữa các vùng, các điều kiện lịch sử cụ thể quy định trình độ phát triển ở mỗi nơi. Tại hội nghị thượng đỉnh Quốc tế về tín dụng vi mô đã nhận định “Nghèo đói là nỗi bức xúc của thời đại” và đã đưa ra khái niệm chung về nghèo đói như sau: “Người nghèo đói là những người có mức sống nằm dưới chuẩn mực nghèo đói của từng quốc gia kể từ dưới lên”. Trên thế giới có nhiều khái niệm khác nhau về nghèo đói, nhưng phổ biến hơn cả là “nghèo đói tuyệt đối” và “nghèo đói tương đối”.

Ngân hàng phát triển Châu Á đã đưa ra khái niệm nghèo đói tuyệt đối và nghèo đói tương đối như sau: + Nghèo đói tuyệt đối: Là hiện tượng xảy ra khi mức thu nhập hay tiêu dùng của một người hay của một hộ gia đình giảm xuống mức thấp hơn giới hạn nghèo đói (theo tiêu chuẩn nghèo đói) vẫn thường được định nghĩa là: “Một điều kiện sống được đặc trưng bởi sự suy dinh dưỡng, mù chữ và bệnh tật đến nỗi thấp hơn mức được cho là hợp lý cho một con người”. + Nghèo đói tương đối: Nghèo đói tương đối được xét trong tương quan xã hội, phụ thuộc vào địa điểm dân cư sinh sống và phương thức tiêu thụ phổ biến nơi đó. Nghèo đói tương đối được hiểu là những người sống dưới mức tiêu chuẩn có thể chấp nhận được trong những địa điểm và thời gian xác định. Như vậy, nghèo đói là tổng hợp khái niệm nghèo và khái niệm đói: Đói và nghèo thường gắn với nhau, nhưng mức độ gay gắt khác nhau.

Đói có mức độ gay gắt cao hơn, cần thiết phải xóa và có khả năng xóa. Còn nghèo, mức độ thấp hơn và khó xóa hơn, chỉ có thể xóa dần nghèo tương đối còn nghèo tuyệt đối chỉ có thể giảm dần. Vì vậy, để giải quyết vấn đề nghèo đói ta thường dùng cụm từ “Xóa đói giảm nghèo”. Các tiêu chí xác định hộ nghèo * Theo quan niệm của thế giới Việc xác định một công cụ để lượng hoá tỷ lệ nghèo đói, số lượng người nghèo đói phần nào còn mang tính chủ quan và có nhiều quan điểm khác nhau.

Ngay cả trong một quốc gia cũng có nhiều tiêu chuẩn khác nhau, thậm chí giữa các vùng cũng có nhiều tiêu chuẩn khác nhau. Hiện nay trên thế giới người ta thường sử dụng hai thước đo cụ thể để lượng hoá tỷ lệ nghèo đói. Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về phát triển xã hội, tổ chức tại Copenhagen ở Đan Mạch năm 1995, đã đưa ra định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói như sau: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập dưới 1 USD mỗi ngày cho mỗi người, số tiền coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”. Hầu hết các nghiên cứu dùng số liệu tỷ lệ nghèo đói dựa trên cơ sở chuẩn thu nhập 1 USD/người/ngày mà Hội nghị thượng đỉnh Thế giới đã đưa ra.

Một số nghiên cứu khác lại dùng thay đổi thị phần thu nhập của nhóm 20% nghèo nhất trong tổng thu nhập như một thước đo gần đúng để đo sự thay đổi về nghèo đói. Vì thế, trong quá trình nghiên cứu nghèo đói tuỳ theo đặc điểm của từng quốc gia, của từng vùng mà nên sử dụng chuẩn nghèo của quốc gia đó, vùng đó là thích hợp nhất. * Quan niệm và tiêu chí xác định của Việt Nam về hộ nghèo: Theo quan niệm của Việt Nam thì các hộ có thu nhập bình quân tính theo đầu người nằm dưới giới hạn nghèo được gọi là hộ nghèo. Với quan niệm này, mức độ nghèo đói ở mỗi quốc gia có trình độ phát triển kinh tế và thu nhập theo đầu người khác nhau sẽ khác nhau, chuẩn nghèo của mỗi quốc gia theo đó cũng khác nhau.

Chuẩn nghèo Việt Nam là một tiêu chuẩn để đo lường mức độ nghèo của các hộ dân tại Việt Nam. Chuẩn này khác với chuẩn nghèo bình quân trên thế giới. - Quyết định số 09/2011/QĐ -TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015 như sau: + Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/ 11 người/tháng (4.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo. + Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (dưới 6.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.

Như vậy so với mức thu nhập để xác định chuẩn nghèo cho giai đoạn 2006 - 2010 (200.000 đồng/người/tháng ở nông thôn và 260.000 đồng/người/ tháng ở thành thị) thì mức thu nhập để xác định chuẩn nghèo giai đoạn tiếp theo được điều chỉnh lên gấp 2 lần. - Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 như sau: + Khu vực nông thôn: Là hộ đáp ứng 1 trong 2 tiêu chí sau: -> Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống. -> Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. + Khu vực thành thị: Là hộ đáp ứng 1 trong 2 tiêu chí sau:  Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống.

 Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Như vậy, so với tiêu chí để xác định hộ nghèo giai đoạn 2011-2015, ngoài tiêu chí về thu nhập tăng gần gấp 2 lần, có tiêu chí về việc tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản; đây là điểm mới trong việc xác định hộ nghèo giai đoạn 2016 - 2020 so với các giai đoạn trước. Sự cần thiết phải xóa đói, giảm nghèo Nghèo đói là hiện tượng phổ biến của nền kinh tế thị trường và tồn tại khách quan đối với mỗi quốc gia trong quá trình phát triển, đặc biệt đối với nước ta quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, xuất phát điểm nghèo nàn lạc hậu tình trạng nghèo đói càng không tránh khỏi. 12 * Nghèo đói là nguyên nhân gây mất ổn định xã hội, phá hoại môi trường và cản trở nâng cao dân trí Đa số người nghèo hiện sống tại khu vực nông thôn.

Sự chênh lệch ngày càng tăng giữa nông thôn và thành thị là nguyên nhân chính gây nên các vấn đề xã hội. Ở nông thôn đất sản xuất có hạn và ngày càng bị thu hẹp; ngành nghề phụ một số nơi không có hoặc không phát triển dẫn đến thời gian nông nhàn nhiều, hậu quả góp phần làm nảy sinh các tệ nạn xã hội như cờ bạc, trộm cắp, nghiện hút. Các nguồn tài nguyên xuống cấp và cạn kiệt, đánh bắt cá quá mức và môi trường tự nhiên biển bị phá hủy; môi trường tự nhiên ở vùng đất mặn và ven biển bị mất đi; mất đất rừng tự nhiên ở các vùng núi, cùng với sự phá hoại hệ sinh thái đa dạng; các vùng đất có vấn đề ngày càng lan rộng do sử dụng đất kém và không đúng cách, ô nhiễm nước mặn, đất và nguồn nước khu vực nông thôn. Những mất mát đi kèm với việc các hộ nghèo buộc phải bán đất, di dân tự do ra thành thị ven đô, nơi họ sinh sống thiếu hoặc không có những dịch vụ cơ bản, một bộ phận con cái họ dễ trở thành nạn nhân của tội phạm (trộm cắp, buôn bán hàng cấm…) và sự xuống cấp của môi trường xung quanh tăng ở mức ngoài tầm kiểm soát.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ