CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG VÀ THANH TRA XÂY DỰNG 1.1 Tổng quan về quản lý xây dựng 1. Khái niệm về quản lý xây dựng Thanh tra xây dựng là một nội dung trong quản lý Nhà nước về xây dựng, do đó để hiểu khái quát về thanh tra xây dựng, cần tìm hiểu các nội dung cơ bản của quản lý Nhà nước về xây dựng (điều này đã được đề cập tại khoản 7 điều 160 luật xây dựng 2014) 1. Một số vấn đề chung về quản lý Nhà nước - Quản lý: Hiện nay có nhiều cách giải thích thuật ngữ quản lý, có quan niệm cho rằng quản lý là cai trị; cũng có quan niệm cho rằng quản lý là điều hành, điều khiển,chỉ huy. Quan niệm chung nhất về quản lý được nhiều người hấp nhận do điều khiển học đưa ra như sau: Quản lý là sự tác động định hướng bất kỳ lên một hệ thông nào đó nhằm trật tự hóa và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định.
Quan niệm này không những phù hợp với hệ thống máy móc thiết bị, cơ thể sống, mà còn phù hợp với một tập thể người, một tổ chức hay một cơ quan nhà nước. Loại hình thứ nhất: là việc con người điều khiển các vật hữu sinh không phải con người, để bắt chúng phải thực hiện ý đồ của người điều khiển. Loại hình này được gọi là quản lý sinh học, quản lý thiên nhiên, quản lý môi trường. Ví dụ con người quản lý vật nuôi, cây trồng.
Loại hình thứ hai: là việc con người điều khiển các vật vô tri vô giác để bắt chúng thực hiện ý đồ của người điều khiển. Loại hình này được gọi là quản lý kỹ thuật. Ví dụ, con người điều khiển các loại máy móc. Loại hình thứ ba: là việc con người điều khiển con người.
Loại hình này được gọi là quản lý xã hội (hay quản lý con người). -5- Quản lý xã hội được Mác coi là chức năng quản lý đặc biệt được sinh ra từ tính chất xã hội hoá lao động. Hiện nay, khi nói đến quản lý, thường người ta chỉ nghĩ đến quản lý xã hội. Vì vậy sau đây chúng ta chỉ nghiên cứu loại hình quản lý thứ ba này, tức là quản lý xã hội.
Từ đó có thể đưa ra khái niệm quản lý theo nghĩa hẹp (tức là quản lý xã hội) như sau:Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng ý chí của người quản lý. Quản lý Xã hội là một yếu tố hết sức quan trọng không thể thiếu trong đời sống xã hội. Xã hội phát triển càng cao thì vai trò của người quản lý càng lớn và nội dung quản lý càng phức tạp. Trong công tác quản lý có rất nhiều yếu tố tác động, nhưng đặc biệt lưu ý tới 5 yếu tố sau đây: Thứ nhất là yếu tố xã hội hay yếu tố con người: Yếu tố này xuất phát từ bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội.
Mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người. Các cơ quan, các viên chức lãnh đạo quản lý cần phải giải quyết một cách đúng đắn, có cơ sở khoa học và thực lực các mối quan hệ xã hội giữa người và người trong mọi lĩnh vực hoạt động quản lý nhà nước. Thứ hai là yếu tố chính trị: Yếu tố chính trị trong quản lý đòi hỏi những người quản lý phải quán triệt tư tưởng, phải biết mình quản lý cho giai cấp nào, cho nhà nước nào mà xác định theo chủ trương, chính sách nào. Thứ ba là yếu tố tổ chức: Tổ chức là khoa học về sự thiết lập các mối quan hệ giữa những con người để thực hiện một công việc quản lý.
Đó là sự sắp đặt một hệ thống bộ máy quản lý, quy định chức năng và thẩm quyền cho từng cơ quan trong bộ máy ấy. -6- Thứ tư là yếu tố quyền uy: Quyền uy là thể thống nhất giữa quyền lực và uy tín trong quản lý. Quyền lực là công cụ để quản lý bao gồm một hệ thống pháp luật, điều lệ quy chế, nội quy, kỷ luật, kỷ cương. Uy tín là phẩm chất đạo đức và bản lĩnh chính trị vững vàng, có kiến thức và năng lực, biết tổ chức và điều hành công việc trung thực, thẳng thắn, có lối sống lành mạnh, có khả năng đoàn kết, có phong cách dân chủ tập thể, có ý thức tổ chức kỷ luật, gương mẫu, nói đi đôi với làm, được quần chúng tín nhiệm.
Chỉ có quyền lực hoặc chỉ có uy tín thì chưa đủ để quản lý, người quản lý cần có cả hai mặt thì quản lý mới đạt hiệu quả. Thứ năm là yếu tố thông tin: Trong quản lý thông tin là nguồn, là căn cứ để ra quyết định quản lý nhằm mang lại hiệu quả. Không có thông tin chính xác và kịp thời người quản lý sẽ bị tụt hậu, không bắt kịp nhịp độ phát triển của xã hội. Trong 5 yếu tố trên yếu tố xã hội, yếu tố chính trị là yếu tố xuất phát, là mục đích chính trị của quản lý; còn tổ chức, quyền uy, thông tin là 3 yếu tố biện pháp kỹ thuật và nghệ thuật quản lý - Quản lý nhà nước: Trong hệ thống các chủ thể quản lý xã hội Nhà nước là chủ thể duy nhất quản lý xã hội toàn dân, toàn diện bằng pháp luật.
Cụ thể như sau: -Nhà nước quản lý toàn dân là nhà nước quản lý toàn bộ những người sống và làm việc trên lãnh thổ quốc gia, bao gồm công dân và những người không phải là công dân. Nhà nước quản lý toàn diện là nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội theo nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thồ. Nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực đời sống xã hội có nghĩa là các cơ quan quản lý điều chỉnh mọi khía cạnh hoạt động của xã hội trên cơ sở pháp luật quy định. -7- -Nhà nước quản lý bằng pháp luật là nhà nước lấy pháp luật làm công cụ xử lý các hành vi vi phạm pháp luật theo luật định một cách nghiêm minh Vậy, Quản lý Nhà nước là sự tác động của các cơ quan mang quyền lực nhà nước (chủ thể quản lý) tới các đối tượng quản lý (đơn vị, tổ chức, công dân) nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước.
Nói cách khác quản lý nhà nước là hoạt động của Nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước. Như vậy tất cả các cơ quan nhà nước đều có chức năng quản lý nhà nước. Quản lý đã được ra đời từ lâu, nhưng quản lý Nhà nước chỉ xuất hiện khi Nhà nước được thành lập là hoạt động được thực hiện thông qua các cơ quan Nhà nước và đảm bảo thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế với các đối tượng bị quản lý trong xã hội, ngoài hoạt động quản lý Nhà nước còn tồn tại những hoạt động quản lý khác không mang tính Nhà nước, chẳng hạn quản lý sản xuất kinh doanh, quản lý nội bộ của một tổ chức, tư nhân v. Trong quản lý Nhà nước, cơ quan Nhà nước tác động lên các tổ chức, cá nhân liên quan thông qua các biện pháp quản lý.
Nhà nước thực hiện quyền quản lý của mình thông qua hoạt động của các cơ quan và cá nhân được Nhà nước giao quyền trong từng lĩnh vực hay từng khu vực lãnh thổ. Quản lý Nhà nước là quản lý của một chủ thể đặc biệt, đó là Nhà nước với tư cách là cơ quan công quyền. Vì vậy, quản lý Nhà nước là hoạt động có tổ chức và bằng pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội để giữ gìn trật tự xã hội và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội theo những mục tiêu đã định Quản lý Nhà nước theo nghĩa rộng được hiểu là toàn bộ hoạt động của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, -8- quốc phòng. Nói cách khác quản lý Nhà nước là toàn bộ hoạt động của Nhà nước nhằm thực hiện chức năng cơ bản của Nhà nước.
Quản lý Nhà nước theo nghĩa hẹp là hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện chức năng chấp hành và điều hành. Đó là hoạt động của cơ quan hành pháp. Nghiên cứu về quản lý Nhà nước theo ngành và theo lãnh thổ thực chất là tìm hiểu thẩm quyền quản lý của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền riêng và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chung. Cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền chung là Chính Phủ và UBND các cấp, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền riêng là các Bộ, ngành ở trung ương và các sở, ngành ở địa phương.
Nhà nước là chủ thể thực hiện quyền quản lý trên toàn lãnh thổ đối với tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội. Tuy vậy, Nhà nước không thể trực tiếp thực hiện tất cả các hoạt động chỉ đạo, điều hành những vẫn đề diễn ra thường xuyên trong hoạt động quản lý. Điều đó dẫn đến việc phải thiết lập ra bộ máy của mình bao gồm các cơ quan chuyên môn giúp Nhà nước thực hiện nhiệm vụ quản lý xã hội. Kết quả của sự phân chia đó gọi là sự phân cấp của quản lý Nhà nước.
Như vậy, trong hoạt động quản lý, Nhà nước vừa có xu hướng tập trung quyền lực vừa có xu hướng phân chia quyền lực. Quản lý Nhà nước về xây dựng + Nội dung quản lý nhà nước về xây dựng (điều 111 – luật xây dựng 2014) - Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, kế hoạch phát triển các hoạt động xây dựng. - Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng. - Ban hành quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng.
-9- - Quản lý chất lượng, lưu trữ hồ sơ công trình xây dựng. - Cấp, thu hồi các loại giấy phép trong hoạt động xây dựng. - Hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong hoạt động xây dựng. - Tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ trong hoạt động xây dựng.
- Đào tạo nguồn nhân lực cho hoạt động xây dựng. - Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hoạt động xây dựng.