Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại, Việt Nam tham gia ký kết nhiều hiệp định thương mại song phương và đa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp mở rộng quy mô xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam vẫn phải đối mặt với nhiều rào cản và rủi ro lớn, bao gồm rủi ro bất cân xứng thông tin, rào cản pháp lý, biến động tỷ giá và đặc biệt là sự thiếu hụt nghiêm trọng về nguồn vốn lưu động cũng như uy tín thương mại trên trường quốc tế. Trong bối cảnh đó, sự tham gia của các ngân hàng thương mại với vai trò trung gian tài chính cung cấp các giải pháp tài trợ thương mại (TTTM) — đặc biệt là phương thức tín dụng chứng từ (L/C) — đóng vai trò then chốt trong việc hỗ trợ vốn, bảo đảm uy tín và phòng ngừa rủi ro cho doanh nghiệp trong toàn bộ chu trình thực hiện hợp đồng ngoại thương.
Về phía hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, sự cạnh tranh gay gắt trong phân khúc ngân hàng bán lẻ đòi hỏi các tổ chức tín dụng phải chuyển dịch cơ cấu thu nhập, đa dạng hóa danh mục kinh doanh dịch vụ nhằm phân tán rủi ro và gia tăng nguồn thu phí dịch vụ thuần. Nghiệp vụ TTTM theo phương thức L/C mang lại nguồn thu ổn định, đồng thời mở ra cơ hội bán chéo các sản phẩm tài chính như tín dụng, kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế. Ngân hàng TMCP Đại chúng Việt Nam (PVcomBank) là ngân hàng thương mại được thành lập trên cơ sở hợp nhất giữa Tổng công ty Tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam (PVFC) và Ngân hàng TMCP Phương Tây (WesternBank). Nhận thấy tiềm năng phát triển dịch vụ và các tồn tại thực tế trong thời gian thực tập tại Trung tâm Thanh toán quốc tế của PVcomBank, tác giả Đỗ Phú Đông đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động Tài trợ thương mại theo phương thức Tín dụng chứng từ tại ngân hàng TMCP Đại chúng Việt Nam".
Mục tiêu nghiên cứu và các nhiệm vụ cụ thể được văn bản xác định như sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động TTTM và phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng thương mại; xây dựng hệ thống chỉ tiêu định tính và định lượng nhằm đo lường chất lượng hoạt động TTTM theo L/C.
- Khảo cứu và phân tích kinh nghiệm phát triển hoạt động TTTM theo L/C tại Ngân hàng TNHH MTV ANZ Việt Nam và Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) để rút ra bài học thực tiễn.
- Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng hoạt động TTTM theo phương thức L/C tại PVcomBank giai đoạn 2013–2016; làm rõ kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại đó.
- Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị cụ thể đối với PVcomBank, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và doanh nghiệp xuất nhập khẩu nhằm nâng cao chất lượng hoạt động này đến năm 2025.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chất lượng hoạt động TTTM theo phương thức tín dụng chứng từ tại PVcomBank. Phạm vi nghiên cứu được xác lập:
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại Hội sở chính và Trung tâm Thanh toán quốc tế PVcomBank; sử dụng số liệu từ Báo cáo tài chính hợp nhất, số liệu nội bộ của phòng TTTM, ý kiến đóng góp của cán bộ nhân viên và phản hồi từ các khách hàng doanh nghiệp sử dụng dịch vụ của ngân hàng.
- Phạm vi thời gian: Tập trung thu thập và phân tích dữ liệu thực tế giai đoạn 2013–2016, xây dựng định hướng và giải pháp phát triển đến năm 2025.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên Luật Thương mại năm 2005 của Việt Nam và giáo trình Tài trợ thương mại quốc tế của Học viện Ngân hàng. Tác giả tiếp cận TTTM theo nghĩa hẹp là TTTM quốc tế: một hiện tượng kinh tế xuất phát từ nhu cầu khách quan, bao gồm các chính sách, biện pháp hỗ trợ về uy tín, thông tin và tài chính trực tiếp cũng như gián tiếp cho các chủ thể kinh doanh quốc tế trong quy trình tái sản xuất nhằm mục đích sinh lời. Đối với phương thức tín dụng chứng từ, văn bản căn cứ vào Quy tắc thực hành thống nhất về Tín dụng chứng từ (UCP 600) của Phòng Thương mại Quốc tế (ICC), định nghĩa L/C là một cam kết chắc chắn và không hủy ngang của ngân hàng phát hành về việc thanh toán khi người thụ hưởng xuất trình bộ chứng từ phù hợp. Tác giả vận dụng giáo trình Thanh toán quốc tế và Tài trợ ngoại thương (Nhà xuất bản Thống kê) để phân tích các đặc trưng cốt lõi của L/C: tính độc lập với hợp đồng thương mại cơ sở, nguyên tắc chỉ giao dịch bằng chứng từ và yêu cầu tuân thủ nghiêm ngặt của bộ chứng từ.
Về phương diện đo lường chất lượng, tác giả kế thừa định nghĩa chất lượng của Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế (ISO) kết hợp mô hình Ngân hàng 3.0 của Brett King, từ đó đưa ra khái niệm chuyên biệt: Chất lượng hoạt động TTTM theo phương thức L/C là khả năng của ngân hàng trong việc cung ứng các dịch vụ liên quan đến L/C đáp ứng yêu cầu của khách hàng hiện tại và tiềm năng, đồng thời phải phù hợp với năng lực nội tại và định hướng chiến lược kinh doanh chung của ngân hàng. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá được cụ thể hóa thành hai nhóm:
Nhóm chỉ tiêu định lượng:
- Sự mở rộng quy mô khách hàng: Đo lường qua tỷ lệ phần trăm tăng trưởng khách hàng qua các năm, khả năng duy trì khách hàng hiện hữu và thu hút khách hàng mới.
- Mức độ đa dạng hóa sản phẩm: Đánh giá số lượng, chủng loại sản phẩm L/C và tỷ trọng cơ cấu các món giao dịch thực hiện.
- Doanh thu từ TTTM theo L/C: Xác định qua tốc độ tăng trưởng doanh thu thu phí dịch vụ thuần và tỷ trọng doanh thu TTTM trên tổng doanh thu hoạt động của ngân hàng.
- Nợ quá hạn TTTM theo L/C: Tỷ lệ phần trăm nợ quá hạn phát sinh từ việc tài trợ L/C nhập khẩu trên tổng doanh số tài trợ, phản ánh năng lực thẩm định và kiểm soát rủi ro tín dụng đi kèm.
Nhóm chỉ tiêu định tính:
- Chất lượng dịch vụ: Mức độ thỏa mãn nhu cầu khách hàng, tính thông suốt trong quá trình tư vấn và xử lý khiếu nại.
- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật: Năng lực vận hành, tính ổn định và mức độ tự động hóa của hệ thống Core Banking trong xử lý điện Swift và lưu trữ hồ sơ.
- Trình độ nghiệp vụ của đội ngũ nhân viên: Khả năng am hiểu tập quán UCP 600, ISBP, kỹ năng kiểm tra chứng từ và năng lực thẩm định hồ sơ tín dụng.
Phương pháp nghiên cứu được tác giả phối hợp áp dụng bao gồm: phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn; phương pháp mô hình hóa quy trình tổ chức và luân chuyển chứng từ; phương pháp suy luận logic và quy nạp không hoàn toàn; phương pháp thống kê mô tả; phương pháp so sánh đối chiếu số liệu tài chính; phương pháp khảo sát ý kiến khách hàng và phỏng vấn trực tiếp cán bộ nghiệp vụ tại ngân hàng. Nguồn dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ Báo cáo tài chính kiểm toán của PVcomBank giai đoạn 2013–2015, mục tiêu kế hoạch kinh doanh năm 2016, số liệu thống kê nội bộ từ phần mềm quản lý của phòng TTTM, cùng các báo cáo chuyên ngành từ Tạp chí The Asset, Global Finance, Trade Finance và trang thông tin tài chính Cafef.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về chất lượng hoạt động tài trợ thương mại theo phương thức tín dụng chứng từ
Chương 1 hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về TTTM và L/C. Tác giả phân tích rõ vai trò của TTTM đối với ba chủ thể: doanh nghiệp (giải quyết bài toán vốn lưu động, giảm thiểu rủi ro pháp lý và nâng cao uy tín), ngân hàng thương mại (gia tăng thu nhập từ phí, tạo cơ hội bán chéo dịch vụ và mở rộng mạng lưới đại lý quốc tế) và nền kinh tế quốc dân (thúc đẩy chu chuyển hàng hóa và hiện đại hóa công nghệ sản xuất). Văn bản phân định chi tiết vai trò của 8 chủ thể có thể tham gia vào giao dịch L/C: Người yêu cầu mở L/C (Applicant), Người thụ hưởng (Beneficiary), Ngân hàng phát hành (Issuing Bank), Ngân hàng thông báo (Advising Bank), Ngân hàng xác nhận (Confirming Bank), Ngân hàng được chỉ định (Nominated Bank), Ngân hàng chuyển nhượng (Transferring Bank) và Ngân hàng hoàn trả (Reimbursing Bank). Đồng thời, tác giả khái quát hóa quy trình luân chuyển 9 bước chuẩn của một giao dịch tín dụng chứng từ.
Các hình thức tài trợ bằng L/C được phân loại theo hai chiều nghiệp vụ:
- Tài trợ nhập khẩu: Tư vấn lập đơn mở L/C, tài trợ uy tín thông qua phát hành L/C, cấp hạn mức L/C, cho vay ký quỹ (tỷ lệ ký quỹ linh hoạt từ 5% đến 100%), phát hành các loại L/C đặc biệt (L/C tuần hoàn, L/C UPAS), cho vay bắt buộc thanh toán L/C, ký hậu vận đơn đường biển (B/L) và phát hành bảo lãnh nhận hàng khi hàng hóa đến trước chứng từ.
- Tài trợ xuất khẩu: Tài trợ trước khi giao hàng (tư vấn L/C, cho vay thu mua/sản xuất hàng xuất khẩu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, L/C điều khoản đỏ, L/C giáp lưng, L/C chuyển nhượng) và tài trợ sau khi giao hàng (chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất có truy đòi hoặc miễn truy đòi tại trường 41D).
Chương này cũng phân tích bài học kinh nghiệm từ hai ngân hàng tiêu biểu tại Việt Nam. Ngân hàng ANZ Việt Nam khai thác thành công chiến lược đa dạng hóa với 14 sản phẩm TTTM kết hợp dịch vụ Signature Priority Banking nhằm phục vụ chủ doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Vietcombank tập trung vào chiến lược chuyên môn hóa theo mô hình quản lý tập trung, đạt tỷ lệ điện Swift xử lý tự động hoàn toàn theo chuẩn Mỹ, phát triển mạng lưới ngân hàng đại lý phủ khắp 120 quốc gia và vùng lãnh thổ, đồng thời định kỳ 6 tháng tổ chức đào tạo lại cán bộ nghiệp vụ.
Chương 2: Thực trạng chất lượng hoạt động tài trợ thương mại theo phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng TMCP Đại chúng Việt Nam
Chương 2 đi sâu phản ánh thực tế hoạt động tại PVcomBank. Ngân hàng được thành lập theo Quyết định số 279/GP-NHNN ngày 16/09/2013 và chính thức hoạt động từ ngày 01/10/2013 với vốn điều lệ 9.000 tỷ đồng, tổng tài sản đạt gần 100.000 tỷ đồng. Cơ cấu sở hữu ghi nhận hai cổ đông chiến lược là Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (nắm giữ 52%) và Quỹ đầu tư Morgan Stanley (nắm giữ 6,7%). Mạng lưới của ngân hàng gồm 108 chi nhánh, phòng giao dịch trên cả nước và quan hệ đại lý với 200 ngân hàng quốc tế. Về cơ cấu vận hành, PVcomBank áp dụng mô hình xử lý nghiệp vụ tập trung: các chi nhánh tiếp nhận hồ sơ khách hàng rồi chuyển về Trung tâm Thanh toán quốc tế thuộc Khối vận hành tại Hội sở để xử lý điện SWIFT và giao dịch đối ngoại. Phòng TTTM có cơ cấu gồm 1 trưởng phòng, 1 phó phòng, 2 kiểm soát viên và 6 chuyên viên (chia thành hai bộ phận chuyên trách chứng từ xuất khẩu và nhập khẩu).
| Chỉ tiêu tài chính chủ yếu |
Năm 2013 |
Năm 2014 |
Năm 2015 |
Năm 2016 (KH) |
| Thu nhập lãi thuần (tỷ đồng) |
68 |
522 |
336 |
— |
| Tổng doanh thu (tỷ đồng) |
1.636 |
6.904 |
6.186 |
5.500 |
| Tổng lợi nhuận trước thuế (tỷ đồng) |
-33 |
162 |
70 |
65 |
| Lợi nhuận ròng (tỷ đồng) |
28 |
151 |
72 |
— |
| Cho vay khách hàng (tỷ đồng) |
41.787 |
43.044 |
40.169 |
— |
| Dự phòng rủi ro cho vay (tỷ đồng) |
-1.427 |
-1.080 |
-587 |
— |
| Nguồn vốn huy động từ dân chúng (tỷ đồng) |
56.288 |
75.167 |
69.339 |
— |
| Tổng tài sản (tỷ đồng) |
101.224 |
108.298 |
98.605 |
— |
| Vốn chủ sở hữu (tỷ đồng) |
9.555 |
9.693 |
9.861 |
— |
| Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) |
— |
> 0,10% |
0,073% |
— |
| Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) |
— |
1,50% |
Giảm mạnh |
— |
| Tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM) |
— |
0,50% |
Giảm nhẹ |
Duy trì ~0,5% |
Về thực trạng mảng TTTM, thị phần của PVcomBank chỉ chiếm khoảng 1% đến 2% toàn hệ thống, khoảng cách rất lớn so với Vietcombank (30%) và BIDV (15%). Danh mục sản phẩm TTTM gồm 7 sản phẩm chia làm 3 nhóm chính: Bảo lãnh, L/C và Nhờ thu. Doanh thu từ TTTM (chỉ tính thuần từ phí dịch vụ) năm 2013 đạt 81,87 tỷ đồng (chiếm 5% tổng doanh thu), sau đó giảm nhẹ vào năm 2015 và phục hồi lên mức 8,7% trong năm 2016. Số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán quốc tế duy trì đà tăng trưởng liên tục từ 2013 đến 2016, tỷ lệ khách hàng rời bỏ dịch vụ gần như bằng không.
| Cơ cấu món giao dịch TTTM |
Năm 2014 |
Năm 2015 |
Năm 2016 |
| Phương thức L/C (số món) |
23.879 |
22.876 |
24.928 |
| Phương thức Nhờ thu (số món) |
3.508 |
3.285 |
3.490 |
| Phương thức Bảo lãnh (số món) |
780 |
1.082 |
1.206 |
Về tài trợ L/C nhập khẩu, ngân hàng áp dụng mức phí phát hành L/C trả ngay/trả chậm ký quỹ 100% là 0,05% giá trị L/C; nếu ký quỹ dưới 100% thì áp dụng mức phí 0,15% trên phần trị giá chưa ký quỹ. Phí tu chỉnh tăng giá trị L/C là 0,07% (cao hơn mức 0,05% của BIDV). Ký quỹ đối với L/C trả ngay dao động từ 5% đến 100%, trong khi L/C trả chậm yêu cầu ký quỹ từ 80% đến 100%. Đối với sản phẩm L/C UPAS, PVcomBank mới chỉ liên kết với duy nhất Ngân hàng Công Thương Trung Quốc (ICBC) làm ngân hàng hoàn trả với hạn mức giải ngân khoảng 40 triệu USD/năm và khách hàng duy nhất tiếp cận được là Công ty Cổ phần Dung dịch khoan và Hóa phẩm Dầu khí (DMC). Tỷ lệ nợ quá hạn từ tài trợ L/C nhập khẩu được kiểm soát ở mức khoảng 3% (năm 2016 ghi nhận mức 3,4%).
Về tài trợ L/C xuất khẩu, PVcomBank thực hiện chiết khấu bộ chứng từ có hoàn lại với tỷ lệ ứng trước tối đa lên tới 98% giá trị chứng từ, tài trợ cho vay xuất khẩu trước giao hàng tối đa 80% giá trị hợp đồng. Phí thanh toán bộ chứng từ xuất khẩu là 0,12%, phí chuyển nhượng L/C là 0,1% giá trị chuyển nhượng. Khối lượng món giao dịch L/C xuất khẩu thấp hơn đáng kể so với L/C nhập khẩu do danh mục khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng chủ yếu tập trung vào nhập khẩu vật tư, thiết bị dầu khí.
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tài trợ thương mại theo phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng TMCP Đại chúng Việt Nam
Căn cứ vào định hướng chiến lược đến năm 2025, phấn đấu đạt chuẩn an toàn vốn Basel II vào năm 2018 và hoàn thành đề án tái cơ cấu toàn diện vào năm 2020, chương 3 đề xuất 5 nhóm giải pháp quản trị nội bộ đối với PVcomBank:
- Xây dựng chính sách phát triển TTTM theo L/C phù hợp: Rà soát lại biểu phí dịch vụ (đặc biệt là giảm phí tu chỉnh tăng giá trị L/C để tăng sức cạnh tranh với các NHTM lớn); mở rộng đối tượng cấp L/C UPAS ngoài ngành dầu khí; phát triển các dòng sản phẩm chuyên biệt như bao thanh toán và forfaiting.
- Xây dựng, duy trì và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao: Tăng cường các khóa đào tạo nội bộ định kỳ về UCP 600, ISBP và kỹ năng phát hiện gian lận chứng từ; xây dựng cơ chế phân quyền phê duyệt nghiệp vụ linh hoạt giữa chuyên viên và kiểm soát viên.
- Hiện đại hóa kỹ thuật và công nghệ ngân hàng: Đẩy nhanh tiến độ làm chủ và khai thác tối đa hệ thống phần mềm ngân hàng lõi Core Banking T24 (được đưa vào vận hành chính thức từ năm 2017); tự động hóa quy trình truyền nhận điện Swift chuẩn hóa nhằm rút ngắn thời gian xử lý giao dịch.
- Nâng cao uy tín ngân hàng trong thị trường liên ngân hàng và đối với khách hàng: Tận dụng mạng lưới 200 ngân hàng đại lý hiện hữu để xúc tiến ký kết hạn mức tài trợ khung; cải thiện tính minh bạch thông tin tài chính trước lộ trình niêm yết cổ phiếu trên sàn giao dịch chứng khoán.
- Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát: Phối hợp chặt chẽ giữa phòng TTTM và khối tín dụng trong việc thẩm định năng lực trả nợ của doanh nghiệp nhập khẩu, kiểm soát chặt chẽ tỷ lệ nợ quá hạn dưới ngưỡng 3%.
Bên cạnh giải pháp nội bộ, tác giả đề xuất 3 nhóm kiến nghị vĩ mô:
- Kiến nghị với Chính phủ: Ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, hoàn thiện hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động ngoại thương và hỗ trợ xúc tiến thương mại tại các thị trường tiềm năng.
- Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước: Điều hành chính sách tỷ giá linh hoạt; hoàn thiện các quy chế thanh toán quốc tế và cơ chế quản lý ngoại hối phù hợp với các tập quán quốc tế của ICC.
- Kiến nghị với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu: Nâng cao năng lực tài chính, minh bạch hóa báo cáo tài chính, chú trọng nâng cao trình độ nghiệp vụ thương mại quốc tế của cán bộ phụ trách hợp đồng nhằm giảm thiểu sai sót trên bộ chứng từ xuất trình.
Kết quả và đóng góp
Về kết quả thực tiễn, khóa luận phản ánh bức tranh số liệu xác thực về hoạt động TTTM tại PVcomBank giai đoạn 2013–2016. Dữ liệu chứng minh rằng dù thị phần TTTM của PVcomBank còn khiêm tốn (chiếm 1–2% toàn ngành), hoạt động L/C đã có bước phát triển ổn định: số lượng giao dịch L/C luôn chiếm tỷ trọng áp đảo trên 22.000–24.000 món mỗi năm; tỷ trọng đóng góp của doanh thu TTTM vào tổng doanh thu toàn ngân hàng tăng từ 5% (năm 2013) lên 8,7% (năm 2016); tỷ lệ nợ quá hạn phát sinh từ tài trợ L/C nhập khẩu được duy trì trong ngưỡng kiểm soát từ 3% đến 3,4%. Ngân hàng cũng giữ vững khả năng thanh toán ngoại tệ với số món thanh toán bộ chứng từ L/C nhập khẩu tăng 38% trong giai đoạn 2014–2015.
Về đóng góp học thuật và quản trị, công trình có các điểm nhấn cụ thể:
- Làm rõ sự khác biệt giữa hai khái niệm "hiệu quả" và "chất lượng" hoạt động TTTM theo L/C mà các nghiên cứu trước đó tại Việt Nam (như công trình của Trần Thị Hồng Nhung năm 2016) chưa phân định rõ ràng; công thức hóa các chỉ tiêu định lượng phục vụ việc đo lường.
- Khảo cứu thành công trường hợp điển hình của PVcomBank — một ngân hàng thương mại mới thành lập trên cơ sở hợp nhất và đang trong quá trình tái cơ cấu, bù đắp khoảng trống của các nghiên cứu trước đây vốn chỉ tập trung vào các định chế tài chính lớn có thâm niên như BIDV hay Vietcombank.
- Đưa ra hệ thống giải pháp gắn liền với mốc công nghệ thực tế (vận hành hệ thống Core Banking T24 năm 2017) và mục tiêu an toàn vốn theo chuẩn mực Basel II đến năm 2018.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận còn tồn tại một số hạn chế do điều kiện nghiên cứu thực tế:
- Về nguồn dữ liệu: Các chỉ tiêu tài chính năm 2016 chưa phải là số liệu kiểm toán độc lập chính thức mà được tác giả tổng hợp từ mục tiêu kế hoạch đầu năm của PVcomBank.
- Về phương pháp thu thập ý kiến khách hàng: Do hạn chế về khả năng tiếp cận tập khách hàng quy mô lớn, tác giả chưa xây dựng được bảng hỏi khảo sát định lượng với thang đo chuẩn hóa (như thang đo SERVQUAL hay Likert), việc đánh giá sự hài lòng chủ yếu dựa trên số liệu khách hàng quay lại giao dịch và phản ánh gián tiếp từ nhân viên phòng TTTM.
- Về phạm vi sản phẩm: Số liệu phân tích về các sản phẩm L/C phức tạp (như L/C UPAS, L/C điều khoản đỏ) còn hạn chế do ngân hàng mới chỉ triển khai thử nghiệm trên phạm vi hẹp với một vài đối tác đặc thù (ICBC, DMC).
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc đo lường hiệu quả vận hành thực tế của hệ thống Core Banking T24 sau khi triển khai chính thức; mở rộng khảo sát diện rộng mức độ thỏa mãn của khách hàng doanh nghiệp; và xây dựng mô hình quản trị rủi ro thanh toán quốc tế đáp ứng toàn diện tiêu chuẩn Basel II tại các ngân hàng thương mại tái cơ cấu.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên và học viên cao học các ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế quốc tế, Kinh doanh quốc tế: Cung cấp phương pháp luận phân tích thực trạng nghiệp vụ TTTM tại một ngân hàng thương mại, cách thức xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá chất lượng dịch vụ ngân hàng.
- Cán bộ chuyên trách thanh toán quốc tế và cán bộ thẩm định tín dụng tại các ngân hàng thương mại: Tham khảo chi tiết biểu phí thực tế, các điều kiện mở L/C trả ngay, L/C trả chậm, điều kiện phát hành bảo lãnh nhận hàng, ký hậu vận đơn và quy trình xử lý giao dịch tín dụng chứng từ tập trung.
- Cán bộ quản lý sản phẩm TTTM tại các tổ chức tín dụng quy mô vừa và nhỏ: Rút ra các bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng sản phẩm tài trợ xuất nhập khẩu, chính sách giá phí và giải pháp phòng ngừa nợ quá hạn trong giai đoạn chuyển đổi phần mềm Core Banking.
Câu hỏi thường gặp
PVcomBank được hình thành từ những đơn vị tiền thân nào và cơ cấu vốn tại thời điểm nghiên cứu ra sao?
Theo Giấy phép số 279/GP-NHNN ngày 16/09/2013 của Ngân hàng Nhà nước, PVcomBank được thành lập trên cơ sở hợp nhất giữa Tổng công ty Tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam (PVFC) và Ngân hàng TMCP Phương Tây (WesternBank). Ngân hàng chính thức hoạt động từ ngày 01/10/2013 với vốn điều lệ 9.000 tỷ đồng, tổng tài sản đạt gần 100.000 tỷ đồng. Trong cơ cấu sở hữu, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam là cổ đông lớn nhất nắm giữ 52% vốn, cổ đông chiến lược nước ngoài Morgan Stanley sở hữu 6,7% vốn.
Nghiệp vụ tài trợ thương mại theo phương thức L/C tại PVcomBank được tổ chức theo mô hình nào?
PVcomBank vận hành nghiệp vụ TTTM và thanh toán quốc tế theo mô hình xử lý tập trung. Các chi nhánh và phòng giao dịch trên toàn quốc chịu trách nhiệm tìm kiếm khách hàng, tư vấn nghiệp vụ và tiếp nhận hồ sơ ban đầu. Toàn bộ hồ sơ sau đó được luân chuyển về Trung tâm Thanh toán quốc tế thuộc Khối vận hành tại Hội sở chính. Tại đây, Phòng TTTM (gồm trưởng phòng, phó phòng, 2 kiểm soát viên và 6 chuyên viên chia làm bộ phận xuất và nhập) sẽ trực tiếp kiểm tra chứng từ, xử lý giao dịch với các ngân hàng đại lý nước ngoài qua mạng SWIFT và lưu trữ hồ sơ nghiệp vụ.
Doanh thu từ hoạt động TTTM và số lượng giao dịch L/C tại PVcomBank giai đoạn 2014–2016 đạt mức nào?
Trong giai đoạn 2014–2016, phương thức L/C luôn chiếm số lượng giao dịch lớn nhất tại PVcomBank với 23.879 món (năm 2014), 22.876 món (năm 2015) và 24.928 món (năm 2016). Về mặt doanh thu, nguồn thu thuần từ phí dịch vụ TTTM năm 2013 đạt 81,87 tỷ đồng (chiếm 5% tổng doanh thu toàn hàng) và đến năm 2016 tỷ trọng doanh thu TTTM trên tổng doanh thu hoạt động đã nâng lên mức 8,7%.
Hoạt động phát hành L/C UPAS tại PVcomBank gặp phải những giới hạn thực tế nào?
Tại thời điểm nghiên cứu, hoạt động tài trợ theo L/C UPAS không phải là thế mạnh của PVcomBank do chịu nhiều rào cản: ngân hàng chỉ có duy nhất Ngân hàng Công Thương Trung Quốc (ICBC) chấp thuận thiết lập quan hệ làm ngân hàng hoàn trả, hạn mức tài trợ bị giới hạn ở mức khoảng 40 triệu USD/năm và khách hàng doanh nghiệp duy nhất trong toàn hệ thống đủ điều kiện tiếp cận sản phẩm này là Công ty Cổ phần Dung dịch khoan và Hóa phẩm Dầu khí (DMC).
Tỷ lệ nợ quá hạn từ các giao dịch tài trợ L/C nhập khẩu tại PVcomBank được ghi nhận ở mức bao nhiêu?
Theo số liệu thống kê nội bộ từ cán bộ Phòng TTTM PVcomBank, tỷ lệ nợ quá hạn phát sinh từ các khoản mục tài trợ L/C nhập khẩu giai đoạn 2014–2016 duy trì ổn định quanh mức 3% trên tổng doanh số phát hành và tài trợ L/C. Mức nợ quá hạn cao nhất được ghi nhận vào năm 2016 là 3,4%, được đánh giá là mức rủi ro nằm trong ngưỡng kiểm soát an toàn của ngân hàng trong giai đoạn đầu thành lập và chuẩn bị chuyển đổi hệ thống Core Banking.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Phú Đông đã hệ thống hóa lý luận về phương thức tín dụng chứng từ và lượng hóa các tiêu chí đo lường chất lượng dịch vụ tài trợ thương mại của ngân hàng thương mại. Thông qua việc phân tích thực tế tại PVcomBank giai đoạn 2013–2016, công trình làm rõ năng lực xử lý giao dịch, cơ cấu thu phí, tỷ lệ kiểm soát nợ quá hạn cũng như những nút thắt về công nghệ, chính sách phí và sự hạn chế của dòng sản phẩm L/C UPAS tại một định chế tài chính sau sáp nhập. Hệ thống 5 nhóm giải pháp quản trị nội bộ cùng các kiến nghị vĩ mô được đề xuất mang tính khả thi cao, gắn liền với lộ trình vận hành hệ thống Core Banking T24 và định hướng tái cơ cấu của ngân hàng đến năm 2025.