Chương 1: Những vấn đề cơ bản về chất lượng hoạt động tài trợ thương mại theo phương thức tín dụng chứng từ Chương 2: Thực trạng hoạt động Tài trợ thương mại theo phương thức Tín dụng chứng từ tại ngân hàng TMCP Đại chúng Việt Nam Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động Tài trợ thương mại theo phương thức Tín dụng chứng từ tại ngân hàng TMCP Đại chúng Việt Nam 5 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƢỢNG HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƢƠNG MẠI THEO PHƢƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 1. Những vấn đề cơ bản của Tài trợ thƣơng mại và phƣơng thức Tín dụng chứng từ 1. Những vấn đề cơ bản của Tài trợ thương mại 1. Khái niệm Tài trợ thương mại Hiện tại, khi nhắc đến thuật ngữ “Tài trợ thương mại”, ta có thể hiểu theo hai hướng: Tài trợ thương mại nội địa, trong đó yếu tố thương mại bao gồm các hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và xúc tiến thương mại giữa các chủ thể trong cùng một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ, và Tài trợ thương mại quốc tế, trong đó yếu tố thương mại bao gồm các hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ và xúc tiến thương mại giữa các chủ thể có trụ sở kinh doanh giữa hai quốc gia, hoặc hàng hóa phải di chuyển qua biên giới của ít nhất hai quốc gia, vùng lãnh thổ.
Tuy nhiên, trong khuôn khổ khóa luận này, khái niệm “Tài trợ thương mại” sẽ chỉ được dùng để biểu thị cách hiểu thứ hai – “Tài trợ thương mại quốc tế”. Theo Luật thương mại năm 2005 của nước CHXHCN Việt Nam, “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”. Cụ thể, các hoạt động chính của thương mại bao gồm: - Mua bán hàng hóa - Cung ứng dịch vụ - Xúc tiến thương mại Khi cung cấp các dịch vụ “Tài trợ thương mại”, các tổ chức tài chính, các ngân hàng sẽ cố gắng hỗ trợ các chủ thể kinh doanh dựa trên những rủi ro mà họ có thể gặp phải trong quá trình trao đổi hàng hóa. Như vậy, thuật ngữ “Tài trợ thương mại” được định nghĩa như sau: “Tài trợ thương mại là một hiện tượng kinh tế xuất phát từ nhu cầu khách quan; nó bao gồm các chính sách, biện pháp hỗ trợ về uy tín, thông tin và tài chính trực tiếp cũng như gián tiếp cho các chủ thể hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế trong một, một số hoặc tất cả công đoạn của quy trình tái sản xuất từ đầu tư, sản xuất, cho đến tiêu thụ 6 sản phẩm nhằm mục đích sinh lời” (Theo Tài liệu học tập môn Tài trợ thương mại Quốc tế, Học viện Ngân hàng).
Đặc điểm của tài trợ thương mại Từ các khái niệm trên, ta có thể rút ra một số đặc điểm của Tài trợ thương mại như sau: - Tài trợ thương mại là một khái niệm rất rộng. Tất cả các hoạt động hỗ trợ, thúc đẩy quá trình trao đổi hàng hóa, dịch vụ của các doanh nghiệp đề có thể coi là tài trợ thương mại, cho dù nó có thể hiện dưới dạng hình thức hỗ trợ tài chính trực tiếp hay không. - Tài trợ thương mại có mục tiêu là lợi nhuận. Trên thực tế, cả người tài trợ (các trung gian tài chính, các ngân hàng) hay người nhận tài trợ (doanh nghiệp xuất, nhập khẩu) đều hướng đến lợi nhuận khi tiến hành tài trợ và nhận tài trợ.
Bên cạnh đó, ngoài mục tiêu lợi nhuận, khi cung ứng các sản phẩm tài trợ thương mại, các ngân hàng còn mong muốn có thể nâng cao uy tín, tăng thị phần và mở rộng mạng lưới đại lý. - Tài trợ thương mại hỗ trợ tất cả các công đoạn của quá trình tái sản xuất, nên nó có thể xuất hiện ở một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình tái sản xuất. Thời điểm xuất hiện yếu tố tài trợ của các tổ chức tài chính, ngân hàng hay chính phủ chủ yếu phụ thuộc vào nhu cầu cần tài trợ của các chủ thể kinh doanh xuất nhập khẩu và khả năng đáp ứng của các tổ chức tài chính, ngân hàng. - Tài trợ thương mại là một loại hình kinh tế, nên nó thường có hai chiều.
Điều này có nghĩa, một tổ chức có thể nhận nguồn tài trợ từ bên ngoài và đồng thời tài trợ cho một bên thứ ba. - Do có tính rủi ro cao, nên thời hạn tài trợ thương mại quốc tế thường là ngắn hạn và trung hạn. Tài trợ quốc tế dài hạn thường chiếm tỉ trọng thấp. - Sản phẩm tài trợ thương mại thường gắn với dịch vụ thanh toán quốc tế mà ngân hàng cung ứng cho khách hàng của mình.
Bên cạnh đó, khi thực hiện cung ứng sản phẩm tài trợ thương mại, các ngân hàng thường yêu cầu sự tham gia, phối kết hợp của nhiều phòng ban trong từng giai đoạn cụ thể. Vai trò của tài trợ thương mại a) Vai trò của tài trợ thương mại đối với doanh nghiệp Trong kinh doanh xuất nhập khẩu, nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu là hai chủ thể quan trọng nhất. Các nhiệm vụ mà nhà xuất khẩu cần thực hiện bao gồm: tìm kiếm 7 khách hàng, ký kết hợp đồng, chuẩn bị hàng hóa, thực hiện hợp đồng, đòi tiền thanh toán và bảo hành sau giao hàng. Song song với đó, nhà nhập khẩu cũng cần thực hiện các nhiệm vụ sau: tìm kiếm nguồn cung ứng hàng hóa phù hợp, ký kết hợp đồng, chuẩn bị tiền thanh toán, thanh toán cho nhà xuất khẩu.
Tuy nhiên, trong kinh doanh xuất nhập khẩu, thì rủi ro có thể đến từ nhiều yếu tố cả về khách quan với chủ quan. Cả nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu, trong quá trình tìm kiếm thị trường và thực hiện hợp đồng, đều sẽ gặp những khó khăn và rủi ro về sự thiếu hụt thông tin về hành lang pháp lý, tỉ giá hối đoái hay tình hình chính trị, xã hội của nước đối tác và sự thiếu hụt nguồn vốn trong quá trình chuẩn bị hàng hóa hay quá trình thanh toán theo yêu cầu của đối tác. Do vậy, thông qua các sản phẩm tài trợ thương mại được cung ứng bởi các ngân hàng, các doanh nghiệp xuất, nhập khẩu sẽ có những lợi thế nhất định trong quá trình thực hiện hợp đồng hay quá trình tìm kiếm thông tin về đối tác. Tóm lại, tài trợ thương mại đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình kinh doanh của các doanh nghiệp xuất, nhập khẩu.
Với tài trợ thương mại, các doanh nghiệp sẽ được trợ giúp về vốn, thông tin và cả uy tín; từ đó đẩy nhanh được quá trình thực hiện hợp đồng. b) Vai trò đối với các ngân hàng thương mại Trước hết, thông qua hoạt động thực hiện tài trợ thương mại cho doanh nghiệp, ngân hàng sẽ thu được các khoản phí bảo lãnh, phí thực hiện dịch vụ rất lớn. Bên cạnh đó, do đặc thù của sản phẩm, khi cung ứng các sản phẩm tài trợ thương mại, ngân hàng còn có khả năng thực hiện bán chéo thành công rất cao. Nói cách khác, khi ngân hàng cung ứng dịch vụ tài trợ thương mại cho khách hàng, ngân hàng còn có thể cung ứng song song các dịch vụ đi kèm như tín dụng, thanh toán quốc tế hay kinh doanh ngoại hối.
Điều này giúp cho ngân hàng tranh thủ được tối đa nguồn khách hàng trong bối cảnh cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt. Hơn thế nữa, khi thực hiện bán chéo, ngân hàng còn có khả năng hoàn thiện đồng thời tất cả các dịch vụ của mình, nâng cao chất lượng của dịch vụ, từ đó nâng cao uy tín và thị phần trên thị trường. Ngoài ra, thông qua việc thực hiện các nghiệp vụ tài trợ thương mại, ngân hàng còn có khả năng thâm nhập vào thị trường tài chính thế giới. Thông qua việc thiết lập mối quan hệ đại lý với các ngân hàng nước ngoài, các ngân hàng trong nước có cơ hội 8 rất lớn để quảng bá hình ảnh, nâng cao uy tín, tìm kiếm các kênh đầu tư cũng như tìm kiếm khách hàng tiềm năng ở một thị trường mới.
c) Vai trò của tài trợ thương mại đối với nền kinh tế quốc dân Đầu tiên, vai trò đầu tiên của tài trợ thương mại là xúc tiến, đẩy nhanh tiến độ thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp, từ đó tạo ra được dòng chảy hàng hóa và dòng chảy vốn giữa các quốc gia trên thế giới. Điều này không chỉ giúp cho nền kinh tế phát triển ổn định, mà còn khiến nguồn vốn được phân phối hiệu quả giữa các quốc gia trên thế giới. Tài trợ thương mại góp phần thúc đẩy quá trình phát triển và hiện đại hóa của nền kinh tế. Thông qua các sản phẩm tài trợ, doanh nghiệp trong nước có cơ hội được nhập khẩu các dịch vụ, dây chuyền máy móc của nước ngoài, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, phát triển quy mô sản xuất và tối đa hóa hiệu quả sản xuất.
Cuối cùng, khi tiến hành xuất nhập khẩu, hàng hóa nhập khẩu của nước này chính là hàng hóa xuất khẩu của nước khác. Điều này có nghĩa, doanh nghiệp sản xuất của một quốc gia sẽ phải cạnh tranh với hàng hóa đến từ nhiều quốc gia khác trên thế giới. Theo lý thuyết về nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh này chính là tiền đề cho sự phát triển của nền kinh tế toàn thế giới. Những vấn đề cơ bản của phương thức tín dụng chứng từ 1.
Khái niệm tín dụng chứng từ Theo UCP 600, Tín dụng chứng từ hay Letter Credit (L/C) được định nghĩa như sau: “Tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận bất kỳ dù được mô tả hoặc gọi tên như thế nào, đều thể hiện một cam kết chắc chắn và không hủy ngang của ngân hàng phát hành về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp”. Đặc điểm của tín dụng chứng từ Theo Giáo trình Thanh toán quốc tế và Tài trợ ngoại thương, Nhà xuất bản Thống kê, Tín dụng chứng từ có các đặc điểm sau: - L/C có nhiều nguồn luật cùng điều chỉnh. Do đó, trình tự ưu tiên theo thứ tự giảm dần sẽ là: Công ước và Luật quốc tế, Luật quốc gia, Thông lệ và tập quán quốc tế. Bên cạnh đó, do Thông lệ và tập quán quốc tế có tính chất tùy ý, nên tất cả các phiên bản UCP đều còn nguyên hiệu lực; khi soạn thảo L/C, cần nêu rõ phiên bản UCP làm căn cứ và chỉ khi L/C dẫn chiếu UCP, thì nó mới có hiệu lực.
9 - L/C là hợp đồng kinh tế hai bên.