mở đầu vào những năm cuối thế kỷ XVIII. 8 Theo ISO 8402 kiểm tra chất lượng là các hoạt động như đo, xem xét thử nghiệm hoặc định chuẩn một hay nhiều đặc tính của đối tượng và so sánh kết quả với yêu cầu quy định nhằm xác định sự không phù hợp của mỗi đặc tính. Như vậy kiểm tra chất lượng chỉ là một sự phân loại sản phẩm đã được sản xuất một cách bị động. Sản phẩm phù hợp quy định cũng chưa chắc đã thỏa mãn nhu cầu thị trường nếu như các quy định không phản ánh đúng nhu cầu.
Để khắc phục vấn đề trên, vào những năm 1920 người ta đã bắt đầu chú trọng đến những quá trình tạo ra sản phẩm hơn là đợi đến khâu cuối cùng mới tiến hành sàng lọc sản phẩm. Cũng từ đó, khái niệm kiểm soát chất lượng đã ra đời. Kiểm soát chất lượng (Quality Control - QC): Là các hoạt động và kỹ thuật mang tính tác nghiệp được sử dụng để đáp ứng các yêu cầu chất lượng. Để kiểm soát chất lượng, người ta kiểm soát các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tạo ra chất lượng sản phẩm, bao gồm: Con người; Phương pháp và quá trình; Cung ứng các yếu tố đầu vào; Trang thiết bị và Thông tin.
Đảm bảo chất lượng (Quality Assurance - QA): Là mọi hoạt động có kế hoạch, có hệ thống và được khẳng định nếu cần để đem lại lòng tin thỏa đáng sản phẩm, thỏa mãn các yêu cầu đã định đối với chất lượng. Nội dung cơ bản của hoạt động đảm bảo chất lượng là xây dựng một hệ thống đảm bảo chất lượng có hiệu lực và hiệu quả, đồng thời làm thế nào để chứng tỏ cho khách hàng biết điều đó. ®¶m b¶o chÊt lîng chøng minh viÖc b»ng chøng vÒ kiÓm so¸t chÊt lîng kiÓm so¸t chÊt lîng - sæ tay chÊt lîng - phiÕu kiÓm nghiÖm - quy tr×nh - b¸o c¸o kiÓm t¶ thö nghiÖm - quy tr×nh kü thuËt - quy ®Þnh tr×nh ®é c¸n bé - ®¸nh gi¸ cña kh¸ch hµng - hå s¬ s¶n phÈm - .1: Nội dung của Đảm bảo chất lượng (QA) 9 4. Kiểm soát chất lượng toàn diện (Total Quality Control - TQC): Do Feigenbaun đưa ra năm 1951, được định nghĩa là một hệ thống có hiệu quả để nhất thể hoá các nỗ lực phát triển, duy trì và cải tiến chất lượng của các nhóm khác nhau vào trong một tổ chức sao cho các hoạt động marketing, kỹ thuật, sản xuất và dịch vụ có thể tiến hành một cách kinh tế nhất, cho phép thoả mãn nhu cầu khách hàng.
®¶m b¶o chÊt lîng ph¹m vi kiÓm so¸t KiÓm so¸t chÊt lîng Chøng toµn c«ng ty minh kiÓm so¸t viÖc kiÓm c¸c ®iÒu kiÖn c¬ b¶n kiÓm tra cña qu¸ tr×nh so¸t s¶n xuÊt chÊt lîng ChÊt lîng: - Con ngêi - ThiÕt bÞ nhÊt thÓ ho¸ - Ph¬ng ph¸p b»ng chøng KiÓm tra s¶n xuÊt - VËt t cña viÖc kiÓm so¸t - Th«ng tin chÊt lîng c¸c ho¹t ®éng chÊt lîng tqc cã ngêi c¬ cÊu tæ chøc chÆt chÏ gi¸m s¸t c¸c ho¹t ®éng chÞu tr¸ch nhiÖm ®¶m b¶o chÊt sù tham gia lîng cña mäi thµnh viªn Hình 1.2: Mô hình Kiểm soát chất lượng toàn diện (TQC) 1. Quản lý chất lượng trong xây dựng 1. Các khái niệm liên quan 1. Công trình xây dựng [8] Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế.
Công trình xây dựng bao gồm công trình xây dựng công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, năng lượng và các công trình khác. Chất lượng công trình xây dựng CLCT xây dựng được đánh giá bởi các đặc tính cơ bản như: Công năng, tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật, độ bền vững, tính thẩm mỹ, an toàn trong khai thác sử dụng, tính kinh tế và đảm bảo về thời gian phục vụ của công trình. 10 Theo cách nhìn rộng hơn, CLCT xây dựng bao gồm cả quá trình hình thành sản phẩm xây dựng cùng với các vấn đề liên quan khác. Một số vấn đề cơ bản liên quan đến CLCT xây dựng là: - CLCT xây dựng cần được quan tâm ngay từ khi hình thành ý tưởng về XDCT, từ khâu quy hoạch, lập dự án, đến khảo sát thiết kế, thi công cho đến giai đoạn khai thác, sử dụng và dỡ bỏ công trình sau khi đã hết thời hạn phục vụ.
CLCT xây dựng thể hiện ở chất lượng quy hoạch xây dựng, chất lượng dự án đầu tư XDCT, chất lượng khảo sát, chất lượng các bản vẽ thiết kế,. - CLCT luôn gắn với vấn đề đảm bảo an toàn, an toàn không chỉ là trong khâu khai thác, sử dụng mà phải đảm bảo an toàn trong các giai đoạn khảo sát, thiết kế, thi công và giám sát xây dựng công trình. Ngoài ra, CLCT xây dựng cần chú ý các vấn đề về tiến độ thực hiện, chi phí đầu tư xây dựng và đảm bảo vệ sinh, an toàn môi trường. Quản lý chất lượng công trình xây dựng Quản lý CLCT xây dựng là tập hợp các hoạt động từ đó đề ra các yêu cầu, quy định và thực hiện các yêu cầu, quy định đó bằng các biện pháp như kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng, cải tiến chất lượng.
Hoạt động quản lý CLCT xây dựng chủ yếu là công tác giám sát và tự giám sát của CĐT và các chủ thể khác. Nói cách khác thì quản lý CLCT xây dựng là tập hợp các hoạt động của cơ quan, đơn vị có chức năng quản lý thông qua kiểm tra, đảm bảo chất lượng, cải tiến chất lượng trong các giai đoạn từ chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, kết thúc xây dựng và đưa vào khai thác sử dụng. Các Bộ, Ngành có liên quan trong công tác QLCL công trình như sau: - Bộ Xây dựng thống nhất quản lý nhà nước về CLCT xây dựng trong phạm vi cả nước và QLCL các công trình xây dựng chuyên ngành, bao gồm: Công trình dân dụng, công trình công nghiệp vật liệu xây dựng và công trình hạ tầng kỹ thuật. - Các Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành: + Bộ Giao thông vận tải QLCL công trình giao thông; + Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn QLCL công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn; 11 + Bộ Công Thương QLCL công trình hầm mỏ, dầu khí, nhà máy điện, đường dây tải điện, trạm biến áp và các công trình công nghiệp chuyên ngành.
+ Bộ Quốc phòng, Bộ Công an QLCL các công trình xây dựng thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh. + Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về CLCT xây dựng trên địa bàn. Sở Xây dựng và các Sở quản lý công trình xây dựng chuyên ngành giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh QLCL công trình chuyên ngành. Thành phần tham gia quản lý chất lượng công trình xây dựng - Trong giai đoạn khảo sát: Ngoài sự giám sát của CĐT, nhà thầu khảo sát xây dựng phải có bộ phận chuyên trách tự giám sát công tác khảo sát; - Trong giai đoạn thiết kế: Nhà thầu tư vấn thiết kế tự giám sát sản phẩm thiết kế theo các quy định và chịu trách nhiệm trước CĐT và pháp luật về chất lượng thiết kế XDCT.
CĐT nghiệm thu sản phẩm thiết kế và chịu trách nhiệm về các bản vẽ thiết kế giao cho nhà thầu thi công xây dựng; - Trong giai đoạn thi công XDCT: Bao gồm các hoạt động QLCL và tự giám sát của nhà thầu thi công xây dựng; giám sát thi công XDCT và công tác nghiệm thu của CĐT; giám sát tác giả của nhà thầu thiết kế XDCT và ở một số dự án có sự tham gia giám sát của cộng đồng; - Trong giai đoạn bảo hành công trình: CĐT, chủ sở hữu hoặc chủ quản lý sử dụng công trình có trách nhiệm kiểm tra tình trạng công trình xây dựng, phát hiện hư hỏng để yêu cầu sửa chữa, thay thế đồng thời giám sát và nghiệm thu công việc khắc phục sửa chữa đó; Bên cạnh sự giám sát, tự giám sát của các chủ thể, quá trình triển khai XDCT còn có sự tham gia giám sát của nhân dân, của các cơ quan quản lý nhà nước về CLCT xây dựng; 1. Vai trò và ý nghĩa của quản lý chất lượng công trình xây dựng 1. Vai trò - Đối với Nhà nước, CĐT: Tạo được sự ổn định trong xã hội, tạo được niềm tin đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia vào lĩnh vực xây dựng, hạn chế được những rủi ro, thiệt hại cho những người sử dụng và cộng đồng. 12 - Đối với nhà thầu: Tiết kiệm nguyên vật liệu, nhân công, máy móc thiết bị, tăng năng suất lao động, nâng cao đời sống người lao động, thuận lợi cho việc áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ.
CLCT xây dựng gắn liền với an toàn thiết bị và nhân công, giúp duy trì, nâng cao thương hiệu và phát triển bền vững của nhà thầu. Ý nghĩa - Công tác quản lý CLCT xây dựng thực hiện tốt sẽ không xảy ra sự cố, tuổi thọ công trình đáp ứng thời gian quy định trong hồ sơ thiết kế, phát huy hiệu quả dự án, đáp ứng đầy đủ nhiệm vụ theo quyết định phê duyệt. - Góp phần phòng chống tham nhũng, ngăn ngừa thất thoát trong xây dựng, tiết kiệm cho ngân sách quốc gia, tạo ra sự phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của nhân dân. Công tác thiết kế xây dựng công trình 1.
Tổng quan về công tác thiết kế xây dựng công trình [8] 1. Tư vấn thiết kế và sản phẩm tư vấn thiết kế - TVTK là hoạt động các nhà thầu, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực xây dựng bằng năng lực chuyên môn và kinh nghiệm thực hiện công việc tư vấn cho các khách hàng, CĐT để dựa trên nhiệm vụ, mục tiêu của dự án, công trình đã cho trước và trong một khoảng thời gian xác định có thể đưa ra hình dáng, kết cấu công trình, kiến trúc xây dựng, biện pháp xây dựng, giá thành công trình, đánh giá hiệu quả của dự án, công trình,.và một số yêu cầu khác tùy theo mong muốn, nhu cầu của khách hàng, CĐT xây dựng công trình.