Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nước sạch là tài nguyên thiết yếu đối với sức khỏe con người cũng như sự phát triển của các ngành sản xuất kinh tế. Theo dự báo của Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc (FAO), đến năm 2025 có khoảng 1,8 tỉ người sẽ phải sống tại các vùng hoàn toàn thiếu nước và 2/3 dân số thế giới đối mặt với tình trạng căng thẳng về nước; hiện nay mỗi ngày có tới 4.000 trẻ em tử vong do sử dụng nguồn nước không bảo đảm vệ sinh. Tại Việt Nam, thống kê của Hội Tài nguyên nước quốc tế (IWRA) xếp nước ta vào nhóm quốc gia thiếu nước với tổng lượng nước bình quân đầu người chỉ đạt 3.840 m³/người/năm (thấp hơn ngưỡng chỉ tiêu tối thiểu). Thống kê từ Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường cho thấy khoảng 20% dân số chưa được tiếp cận nguồn nước sạch; trung bình mỗi năm có khoảng 9.000 trường hợp tử vong do ô nhiễm nguồn nước và điều kiện vệ sinh kém, cùng hơn 250.000 ca nhập viện do bệnh tiêu chảy cấp liên quan đến nguồn nước ô nhiễm.

Xã Phùng Xá, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội là địa bàn nằm dọc ven sông Đáy, phát triển nghề dệt khăn truyền thống với 40 công ty, doanh nghiệp và trên 60 hộ kinh doanh lớn, tạo sinh kế cho hàng nghìn lao động. Tuy nhiên, các hoạt động dệt nhuộm xả trực tiếp nước thải chưa qua xử lý ra hệ thống mương máng và sông Đáy, làm ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước mặt và đe dọa các tầng chứa nước ngầm mà nhân dân địa phương khai thác phục vụ ăn uống, sinh hoạt. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Mạnh Hùng được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng khai thác, sử dụng và kiểm định chất lượng nước sinh hoạt, qua đó đề xuất các giải pháp khả thi để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài bao gồm:

  • Mục tiêu chung: Góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng nước sinh hoạt cho người dân tại khu vực xã Phùng Xá, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Đánh giá chất lượng nước sinh hoạt của người dân tại xã Phùng Xá, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
    2. Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng nước sinh hoạt tại khu vực nghiên cứu.

Nhiệm vụ nghiên cứu được phân chia thành 4 nội dung:

  1. Nghiên cứu thực trạng sử dụng nước sinh hoạt tại xã Phùng Xá.
  2. Đánh giá chất lượng nguồn nước sinh hoạt tại xã Phùng Xá.
  3. Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước sinh hoạt tại địa bàn.
  4. Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng nước sinh hoạt tại khu vực nghiên cứu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Nguồn nước sinh hoạt (nước ngầm, nước mặt, nước mưa) của người dân tại khu vực xã Phùng Xá, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi nghiên cứu: Đánh giá chất lượng nước sinh hoạt tại thời điểm tháng 4 năm 2021 dựa trên các thông số hóa lý cơ bản theo quy định của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận làm rõ các khái niệm chuyên ngành căn cứ theo quy định của văn bản pháp lý: "Nước sinh hoạt" là nước sạch hoặc nước có thể dùng cho ăn, uống, vệ sinh của con người; "Nước sạch" là nước có chất lượng đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật; "Nguồn nước sinh hoạt" bao gồm nước dưới đất (nước ngầm), nước mặt và nước mưa. Nghiên cứu phân tích các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước bao gồm: màu sắc, mùi vị, độ pH, độ đục, độ cứng toàn phần (hàm lượng Ca²⁺ và Mg²⁺), tổng chất rắn hòa tan (TDS), nhu cầu oxy hóa học (COD), nhu cầu oxy sinh hóa (BOD₅), các hợp chất nitơ (amoni NH₄⁺, nitrit NO₂⁻), mangan (Mn) và sắt tổng số (Fe).

Khung quy chuẩn so sánh được áp dụng gồm:

  • QCVN 09-MT:2015/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước dưới đất.
  • QCVN 08-MT:2015/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt (cột A1, A2).
  • QCVN 01-1:2018/BYT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt.

Phương pháp nghiên cứu thực địa và phân tích thực nghiệm bao gồm:

  1. Phương pháp kế thừa số liệu: Thu thập tài liệu hành chính, hiện trạng cấp nước, phân bố dân cư, điều kiện tự nhiên, địa hình và chế độ thủy văn từ Ủy ban nhân dân xã Phùng Xá.

  2. Phương pháp điều tra xã hội học: Khảo sát phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi gồm 50 phiếu điều tra, phân bổ đều theo các thôn trên địa bàn xã Phùng Xá nhằm thu thập thông tin về loại hình cấp nước, độ sâu giếng khoan, lượng nước sử dụng hàng ngày, biện pháp xử lý trước khi dùng và đánh giá cảm quan của người dân.

  3. Phương pháp điều tra quan sát: Khảo sát theo các trục giao thông chính để ghi nhận các cống, máng dẫn nước thải dệt nhuộm chảy tràn ra sông Đáy, các điểm tồn lưu rác thải sinh hoạt và chuồng trại chăn nuôi tiếp giáp các vùng nước mặt.

  4. Phương pháp lấy mẫu và bảo quản mẫu: Lấy tổng số 10 mẫu nước tại các điểm đại diện, gồm 8 mẫu nước ngầm (4 mẫu giếng khoan chưa lọc ký hiệu CL1 đến CL4 và 4 mẫu giếng khoan sau xử lý ký hiệu NL1 đến NL4 tại 4 hộ dân thuộc Thôn Thượng và Thôn Hạ) cùng 2 mẫu nước mặt (1 mẫu nước sông Đáy ký hiệu M1 tại Thôn Thượng và 1 mẫu ao ký hiệu M2 tại Thôn Hạ). Mẫu nước giếng khoan được xả vòi 5–6 phút trước khi hứng vào chai nhựa polyetylen dung tích 1,5 lít. Mẫu phân tích kim loại (Fe, Mn) được cố định bằng 5 ml axit HNO₃ 50%/lít nước; toàn bộ mẫu được bảo quản ở nhiệt độ 5–10°C trong thùng xốp và chuyển về Trung tâm phân tích môi trường và Ứng dụng địa không gian thuộc Trường Đại học Lâm nghiệp.

  5. Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm:

  • Đo màu sắc và mùi: Phân tích cảm quan theo TCVN 6185-1996 / SMEWW 2120 và SMEWW 2150 B, 2160 B.
  • Đo độ pH: Đo trực tiếp bằng máy đo pH theo TCVN 6492:1999 / SMEWW 4500-H⁺.
  • Đo độ cứng toàn phần: Chuẩn độ thể tích bằng dung dịch chuẩn Trilon B 0,02N trong môi trường đệm amoni pH = 10, chỉ thị màu Eriocrom đen T chuyển từ đỏ nho sang xanh chàm (TCVN 6224-1996 / SMEWW 2340 C).
  • Đo tổng chất rắn hòa tan (TDS): Theo phương pháp SMEWW 2540 C.
  • Xác định sắt tổng số: Dùng phương pháp so màu quang điện trên máy quang phổ UV-VIS ở bước sóng 430 nm; phản ứng giữa ion Fe³⁺ với axit sunfosalyxilic tạo phức màu vàng trong môi trường kiềm (TCVN 6177-1996 / ISO 6332-1988).
  • Xác định mangan (Mn): Phương pháp so màu quang điện ở bước sóng 525 nm sau khi oxy hóa Mn bằng (NH₄)₂S₂O₈ thành ion pemanganat màu hồng tím có xúc tác AgNO₃ (TCVN 6002-1995 / ISO 6333-1986).
  • Xác định amoni (NH₄⁺): So màu quang điện ở bước sóng 381 nm nhờ phản ứng tạo phức màu vàng giữa amoni với thuốc thử Seignette (50%) và Nessler (SMEWW 4500-NH3 C/D).
  • Xác định nitrit (NO₂⁻): So màu quang điện ở bước sóng 532 nm dựa trên phản ứng tạo phức màu hồng giữa NO₂⁻ với thuốc thử Griess A và Griess B.
  • Xác định COD: Phương pháp đun hồi lưu kín bằng chất oxy hóa K₂Cr₂O₇ với xúc tác Ag₂SO₄ trong môi trường H₂SO₄ đặc, chuẩn độ lượng đicromat dư bằng muối Mohr Fe(NH₄)₂(SO₄)₂ với chỉ thị Feroin (TCVN 6491:1999 / SMEWW 5220.B:2012).
  • Xác định BOD₅: Đo lượng oxy tiêu hao sau 5 ngày nuôi cấy theo TCVN 6001-1:2008 / SMEWW 5210.B:2012.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương này hệ thống hóa các định nghĩa liên quan đến tài nguyên nước, các tầng cấp nước và các hình thức khai thác thông dụng ở nông thôn Việt Nam (giếng khoan, giếng khơi, bể trữ nước mưa, hệ thống cấp nước tập trung). Tác giả tổng hợp tác hại sinh học của từng thông số ô nhiễm: nước có pH thấp gây hòa tan kim loại từ đường ống dẫn; độ cứng cao gây đóng cặn nồi hơi và tiêu tốn xà phòng; nitrit oxy hóa hemoglobin trong hồng cầu cản trở vận chuyển oxy và tạo hợp chất nitrosamin gây ung thư; sắt gây ố vàng và mùi tanh khó chịu. Về mặt công nghệ, chương 1 trình bày tổng quan các mô hình xử lý nước hộ gia đình trên thế giới ("siêu cát" phủ graphite tại Úc, màng thẩm thấu ngược RO, màng siêu lọc UF) và tại Việt Nam (bể lọc nước phèn 2 ngăn công suất 720 lít/giờ tại Định Quán - Đồng Nai; thiết bị lọc than hoạt tính sản xuất từ than bùn công suất 1 m³/ngày tại Tiền Giang; bể lọc cát thạch anh kết hợp than hoạt tính và sỏi).

Chương II: Mục tiêu, nội dung, phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương trình bày chi tiết mục tiêu, phạm vi và xây dựng các phương pháp phân tích thực nghiệm. Tác giả lập bảng chi tiết về vị trí lấy 10 mẫu nước tại các thôn của xã Phùng Xá, giao thức pha chế hóa chất xác định COD (tỷ lệ 2 ml dung dịch K₂Cr₂O₇/HgSO₄, 1,5 ml mẫu nước, 3,5 ml Ag₂SO₄/H₂SO₄ trong ống nung 30 ml), quy trình dựng đường chuẩn nồng độ Fe³⁺ và Mn²⁺ qua độ hấp thụ quang trên máy UV-VIS, các công thức toán học tính toán nồng độ amoni, nitrit và độ cứng canxi - magie.

Chương III: Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội

Địa bàn xã Phùng Xá có độ cao địa hình trung bình từ 4,7 đến 5,2 m so với mực nước biển, độ dốc thoải dần từ Đông sang Tây ra phía sông Đáy. Khí hậu thuộc vùng nhiệt đới gió mùa với nhiệt độ trung bình năm 23,1°C, lượng mưa trung bình năm đạt 1.520,7 mm (trong đó mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 chiếm 85,2% tổng lượng mưa cả năm), độ ẩm trung bình 85%. Về kinh tế, tổng giá trị thu nhập của xã ước đạt 461 tỷ đồng; cơ cấu kinh tế gồm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng chiếm 60,7%, dịch vụ - thương mại chiếm 28,1%, nông nghiệp chỉ chiếm 11,2%; thu nhập bình quân đầu người đạt 55 triệu đồng/người/năm. Làng nghề dệt Phùng Xá có lịch sử hình thành từ năm 1929 do cụ Hoàng Tiến Gan truyền nghề, hiện duy trì 1.379 máy dệt (gồm 1.258 máy công nghiệp) với 40 công ty, doanh nghiệp hoạt động thường xuyên.

Chương IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Kết quả điều tra 50 hộ gia đình (243 nhân khẩu) phản ánh địa phương chưa có hệ thống cấp nước sạch tập trung. Khối lượng nước sử dụng bình quân đạt 113,74 lít/người/ngày. Nguồn nước cấp chủ yếu là nước ngầm (94% hộ sử dụng), trong đó 84% hộ sử dụng nước giếng khoan qua lọc, 10% hộ dùng nước giếng khoan chưa lọc và 6% dùng nước mưa. Độ sâu giếng phân bổ ở hai mức: 34 hộ khai thác giếng sâu 40 m và 16 hộ khai thác ở độ sâu 18 m. Về biện pháp xử lý: 60% hộ kết hợp bể lọc cát sỏi tự tạo với máy lọc nước thương phẩm (RO, Kangaroo, Nano); 16% chỉ sử dụng máy lọc gia đình; 8% chỉ dùng bể lọc cát sỏi; 16% không áp dụng bất kỳ biện pháp xử lý nào. Cấu tạo bể lọc cát sỏi địa phương gồm 4 tầng: lớp dưới cùng là sỏi (10 cm), tiếp theo là cát thạch anh (40 cm), cát mangan (30 cm) và trên cùng là lớp sỏi (10 cm).

Phân tích chất lượng nước ngầm chưa lọc (CL1 - CL4) cho thấy: 75% số mẫu có màu nâu đục và mùi tanh; 75% số mẫu có hàm lượng amoni (NH₄⁺) vượt QCVN 09-MT:2015/BTNMT (dao động tới 3,52 mg/l, có mẫu vượt gấp gần 9 lần ngưỡng cho phép 1 mg/l); 50% số mẫu vượt ngưỡng mangan (Mn²⁺) với hàm lượng đo được tới 0,57 mg/l; các chỉ tiêu pH, độ cứng, TDS, NO₂⁻ và Fe³⁺ đạt chuẩn. Đối với mẫu nước mặt: nước sông Đáy (M1) và nước ao (M2) đều đục, có mùi hôi; mẫu M1 có COD đạt 144 mg/l, BOD₅ đạt 102 mg/l và NO₂⁻ đạt 0,76 mg/l. Nguyên nhân chính được chỉ ra gồm: nước thải dệt nhuộm chảy trực tiếp qua mương hở ra sông Đáy, bãi rác sinh hoạt tự phát ven mương và dư lượng phân bón từ 570,08 ha đất nông nghiệp.

Chương V: Kết luận, tồn tại và khuyến nghị

Tác giả tóm tắt toàn bộ hiện trạng khai thác nước ngầm, mức độ ô nhiễm amoni và mangan tại tầng khai thác; chỉ rõ việc xả thải của 40 cơ sở dệt nhuộm là tác nhân làm suy giảm nghiêm trọng nguồn nước mặt. Chương này nêu các tồn tại khách quan về số lượng mẫu khảo sát và khuyến nghị chính quyền địa phương sớm triển khai trạm cấp nước sạch tập trung kết hợp đầu tư hệ thống xử lý nước thải làng nghề đồng bộ.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã lượng hóa chi tiết hiện trạng khai thác nước và mức độ ô nhiễm thông qua số liệu khảo sát thực tế:

Nội dung chỉ tiêu Số liệu thực tế trong văn bản
Tỷ lệ hộ dùng nước giếng khoan đã lọc 84% (42/50 hộ)
Tỷ lệ hộ dùng nước giếng khoan chưa lọc 10% (5/50 hộ)
Tỷ lệ hộ dùng nước mưa 6% (3/50 hộ)
Tỷ lệ kết hợp bể cát sỏi và máy lọc thương phẩm 60% (30/50 hộ)
Tỷ lệ chỉ dùng máy lọc nước gia đình 16% (8/50 hộ)
Tỷ lệ chỉ dùng bể lọc cát sỏi tự tạo 8% (4/50 hộ)
Tỷ lệ không lọc nước trước khi sử dụng 16% (8/50 hộ)
Mức tiêu thụ nước sinh hoạt bình quân 113,74 lít/người/ngày
Mẫu nước ngầm vượt chuẩn amoni (NH₄⁺) 75% mẫu (hàm lượng lên tới 3,52 mg/l so với quy chuẩn 1 mg/l)
Mẫu nước ngầm vượt chuẩn mangan (Mn²⁺) 50% mẫu (hàm lượng lên tới 0,57 mg/l)
Ô nhiễm hữu cơ nước sông Đáy (mẫu M1) COD = 144 mg/l; BOD₅ = 102 mg/l; NO₂⁻ = 0,76 mg/l

Các nhóm giải pháp do tác giả đề xuất:

  1. Giải pháp tuyên truyền: Nâng cao ý thức của nhân dân về vệ sinh nguồn nước, phòng chống xả rác bừa bãi và hướng dẫn bảo dưỡng định kỳ các thiết bị lọc gia đình.
  2. Giải pháp quản lý: Ủy ban nhân dân xã cần thắt chặt giám sát các cơ sở sản xuất, xử phạt hành vi xả thải nước dệt nhuộm chưa qua xử lý ra mương dẫn và sông Đáy; quy hoạch mạng lưới cấp nước sạch tập trung.
  3. Giải pháp công nghệ: Chuẩn hóa mô hình bể lọc cát sỏi kết hợp vật liệu hấp phụ (cát thạch anh, cát mangan, than hoạt tính, sỏi đệm) và giàn phun mưa làm thoáng để tăng hiệu quả oxy hóa sắt và khử amoni, đồng thời tính toán chi phí xây dựng phù hợp cho quy mô hộ gia đình.

Đóng góp của khóa luận: Cung cấp bức tranh thực nghiệm đầu tiên về hiện trạng hóa lý nguồn nước sinh hoạt tại xã Phùng Xá năm 2021, chứng minh các rủi ro sức khỏe tiềm ẩn do amoni và mangan trong nước ngầm, đồng thời ghi nhận khách quan hiệu quả xử lý thực tế của các giải pháp lọc nước thủ công mà các hộ dân tự chế tạo.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận ghi nhận một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện nghiên cứu:

  • Dung lượng mẫu khảo sát phòng thí nghiệm còn nhỏ (10 mẫu, trong đó chỉ có 8 mẫu nước ngầm tại 4 hộ gia đình và 2 mẫu nước mặt), chưa bao quát hết địa bàn toàn bộ 3 thôn của xã.
  • Thời gian lấy mẫu tập trung vào một đợt (tháng 4 năm 2021), chưa phản ánh được sự biến động chất lượng nước theo mùa mưa và mùa khô.

Hướng nghiên cứu tiếp được tác giả định hướng:

  • Mở rộng mạng lưới quan trắc chất lượng nước ngầm theo cả hai tầng sâu khai thác (tầng 18 m và tầng 40 m) qua các thời điểm khác nhau trong năm.
  • Đo đạc bổ sung các chỉ tiêu kim loại nặng đặc thù của ngành công nghiệp dệt nhuộm (chì Pb, cadimi Cd, asen As) trong các giếng khoan ven sông Đáy.
  • Đánh giá định lượng hiệu suất xử lý amoni, mangan của mô hình bể lọc cải tiến để đưa ra khuyến cáo kỹ thuật chuẩn xác hơn cho hộ gia đình nông thôn.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn dữ liệu thực nghiệm hữu ích cho sinh viên, giảng viên ngành Quản lý tài nguyên và môi trường, Kỹ thuật môi trường hoặc Quản lý môi trường đô thị và công nghiệp khi thực hiện các chuyên đề về ô nhiễm nguồn nước nông thôn và làng nghề. Khóa luận cung cấp quy trình phân tích các chỉ tiêu hóa lý nước (chuẩn độ COD, so màu quang điện xác định amoni, mangan, nitrit, sắt tổng số) và biểu mẫu bảng hỏi điều tra xã hội học có tính thực tiễn cao. Bên cạnh đó, báo cáo cung cấp luận cứ thực địa cho các cơ quan quản lý tài nguyên môi trường huyện Mỹ Đức và xã Phùng Xá trong công tác quy hoạch dự án cấp nước tập trung và kiểm soát xả thải công nghiệp dệt khăn.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tỷ lệ các nguồn nước được người dân xã Phùng Xá khai thác cho sinh hoạt là bao nhiêu? Theo kết quả khảo sát 50 hộ gia đình (243 nhân khẩu), 94% hộ sử dụng nước ngầm khai thác từ giếng khoan (trong đó 84% có lọc và 10% sử dụng trực tiếp không qua lọc), 6% số hộ còn lại trữ nước mưa để phục vụ ăn uống. Mức tiêu thụ nước sinh hoạt bình quân đạt 113,74 lít/người/ngày.

  2. Nguồn nước ngầm tại địa phương bị ô nhiễm những thông số nào theo quy chuẩn? Kết quả kiểm nghiệm cho thấy 75% số mẫu nước ngầm chưa lọc có màu nâu đục và mùi tanh; 75% số mẫu vượt giới hạn amoni (NH₄⁺) theo QCVN 09-MT:2015/BTNMT (hàm lượng lên tới 3,52 mg/l, có mẫu vượt gấp gần 9 lần ngưỡng cho phép 1 mg/l); 50% số mẫu vượt ngưỡng mangan (Mn²⁺) với hàm lượng đo được tới 0,57 mg/l. Các chỉ tiêu pH, độ cứng, TDS, NO₂⁻ và Fe³⁺ đều nằm trong giới hạn cho phép.

  3. Các hộ dân xã Phùng Xá áp dụng các hình thức lọc nước nào và cấu trúc bể lọc cát sỏi tự tạo ra sao? Có 60% số hộ kết hợp bể lọc cát sỏi với máy lọc nước thương phẩm gia đình (RO, Kangaroo, Nano); 16% chỉ sử dụng máy lọc gia đình; 8% chỉ dùng bể lọc cát sỏi tự tạo và 16% không áp dụng lọc. Bể lọc cát sỏi tự tạo của người dân được cấu tạo 4 tầng: lớp dưới cùng là sỏi dày 10 cm, tiếp theo là cát thạch anh dày 40 cm, cát mangan dày 30 cm và trên cùng là lớp sỏi dày 10 cm.

  4. Chất lượng nước mặt sông Đáy tại khu vực nghiên cứu có mức độ ô nhiễm ra sao? Mẫu nước mặt sông Đáy (M1) tại Thôn Thượng có màu xanh đục và mùi hôi, chỉ số COD đạt 144 mg/l, BOD₅ đạt 102 mg/l và NO₂⁻ đạt 0,76 mg/l. Nguồn nước này bị ô nhiễm hữu cơ nặng nề do tiếp nhận trực tiếp nước thải từ các cơ sở dệt nhuộm khăn và rác thải sinh hoạt chưa qua xử lý.

  5. Đặc điểm làng nghề dệt Phùng Xá tác động như thế nào đến môi trường nước? Làng nghề dệt Phùng Xá có lịch sử từ năm 1929, sở hữu 1.379 máy dệt (gồm 1.258 máy dệt công nghiệp), 40 doanh nghiệp và trên 60 hộ kinh doanh lớn, đạt doanh thu tiểu thủ công nghiệp 280 tỷ đồng. Nước thải từ công đoạn tẩy nhuộm vải chứa nhiều hóa chất màu và chất hữu cơ không qua hệ thống xử lý tập trung mà đổ thẳng ra sông Đáy qua các mương hở, ngấm dần xuống tầng đất và gây ô nhiễm nguồn nước ngầm sinh hoạt.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Mạnh Hùng đã phản ánh toàn diện thực trạng sử dụng và chất lượng nguồn nước sinh hoạt tại xã Phùng Xá, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội vào tháng 4 năm 2021. Kết quả phân tích chỉ ra rằng nguồn nước ngầm đang chịu áp lực ô nhiễm cục bộ nghiêm trọng bởi amoni và mangan vượt quy chuẩn QCVN 09-MT:2015/BTNMT, đồng thời nguồn nước mặt sông Đáy bị suy thoái hữu cơ do nước thải dệt nhuộm và rác thải dân sinh. Đề tài đã hệ thống hóa tập quán xử lý nước của 50 hộ gia đình, đồng thời đề xuất giải pháp kỹ thuật lọc nước đa tầng kết hợp kiến nghị quy hoạch cấp nước sạch tập trung, mang lại giá trị thực tiễn đối với công tác bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng nông thôn.