CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ PHƯỜNG 1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 1. Một số khái niệm - Nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người cơ bản nhất là tiềm năng về lao động, bao gồm thể lực, trí lực, nhân cách của người lao động ứng với cơ cấu nhất định do nền kinh tế - xã hội đòi hỏi [6]. - Quản trị nguồn nhân lực: QTNNL được hiểu là “hệ thống các chính sách hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo, phát triển và duy trì con người của một tổ chức nhằm đạt kết quả tối ưu cho cả tổ chức lẫn nhân viên” [20].
- Cán bộ, cán bộ cấp phường + Cán bộ: Căn cứ theo khoản 1, Điều 4, Luật cán bộ công chức 2008. Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.[31] + Cán bộ cấp phường: Căn cứ theo khoản 3, Điều 4, Luật cán bộ công chức 2008. Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân 5 dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội. [31] Như vậy, cán bộ cấp xã, phường có các chức vụ: Bí thư, phó bí thư Đảng uỷcấp xã, phường, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã, phường, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, phường, Chủ tịch uỷ ban mặt trận Tổ quốc cấp xã, phường, Bí thư Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh cấp xã, phường, Chủ tịch hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam cấp xã, phường, Chủ tịch hội nông dân Việt Nam cấp xã, phường, Chủ tịch hội cựu chiến binh cấp xã, phường.
- Công chức, công chức cấp phường. + Công chức: Căn cứ theo khoản 2, Điều 4 Luật cán bộ công chức 2008:[31] Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. + Công chức cấp xã, phường: Căn cứ theo khoản 3, Điều 4 Luật cán bộ công chức 2008:[31] 6 Công chức cấp xã, phường là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Vai trò, đặc điểm của cán bộ, công chức cấp phường 1.
Vai trò của cán bộ, công chức Chính quyền cấp cơ sở có một vị trí hết sức quan trọng trong hệ thống chính quyền, là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền nhà nước với nhân dân. Đội ngũ CBCC cấp phường là những người sát dân và gần dân nhất. Do đó, mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước có đi vào cuộc sống, trở thành hiện thực sinh động hay không đều phải thông qua đội ngũ CBCC cấp phường. Phẩm chất, năng lực hiệu quả công tác của đội ngũ CBCC cấp phường quyết định hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền cấp phường nói riêng và hệ thống chính trị nói chung.
Đội ngũ CBCC cấp phường có vị trí, vai trò quyết định trong việc xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở. Cơ sở xã, phường mạnh hay yếu phần quan trọng là phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ xã, phường. CBCC cấp phường là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với quần chúng nhân dân, thực hiện hoạt động quản lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương theo thẩm quyền được phân cấp, đảm bảo cho các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, được triển khai và thực hiện trong cuộc sống. Nếu không có đội ngũ CBCC cơ sở vững mạnh thì dù đường lối, chủ trương chính trị có đúng đắn cũng khó biến thành hiện thực.
CBCC cấp phường vừa trực tiếp đem các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước giải thích cho nhân dân hiểu rõ và thi hành, vừa phản ánh nguyện vọng của quần chúng nhân dân với Đảng và Nhà nước để có những điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn. 7 CBCC cấp phường đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý và tổ chức công việc của chính quyền cơ sở. Nhiệm vụ của CBCC là thực thi công vụ theo pháp luật và bảo toàn tính thống nhất của quyền lực nhà nước ở cơ sở thông qua việc giải quyết các công việc hàng ngày. Họ còn có vai trò trực tiếp trong việc bảo đảm kỷ cương phép nước tại cơ sở, đồng thời bảo vệ các quyền tự do dân chủ, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
CBCC cấp phường là nhân tố để đoàn kết, tập hợp mọi tiềm năng, nguồn lực của địa phương, động viên mọi tầng lớp nhân dân ra sức thi đua hoàn thành thắng lợi các mục tiêu kinh tế, xã hội và thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị cơ sở. Chính vì vậy, việc xây dựng đội ngũ CBCC cấp phường vững vàng về chính trị, tư tưởng, có phẩm chất đạo đức, trong sạch về lối sống, có kiến thức, trí tuệ và có năng lực để hoàn thành các nhiệm vụ được giao là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước. Đặc điểm của cán bộ, công chức phường CBCC cấp phường được tuyển dụng hoặc bổ nhiệm giữ chức danh, chức vụ ở cấp cơ sở của Nhà nước, trực tiếp tham gia vào bộ máy công quyền của nền hành chính quốc gia, với tư cách là một công dân, một công chức hành chính. Dựa vào Nghị định 159/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn và Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với CBCC ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã quy định số lượng CBCC như sau: Cấp xã loại 1 không quá 25 người, cấp xã loại 2 không quá 23 người, cấp xã loại 3 không quá 21 người,bao gồm cả cán bộ, công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp phường.
[8],[9] 8 CBCC là nhân tố chủ yếu, hàng đầu đóng góp vào sự tồn tại, phát triển của cơ quan hành chính nhà nước. Họ là những người có vị thế trong xã hội, nhưng chịu sự ràng buộc theo những nguyên tắc nhất định do tổ chức đặt ra. CBCC mang tính Đảng, tính giai cấp, CBCC là những người hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, là những người thực thi công vụ. Đội ngũ CBCC mang tính ổn định, ít biến động và được bảo hộ bằng biên chế Nhà nước.
CBCC cấp phường là người địa phương, sinh sống tại địa phương, có quan hệ dòng tộc và gắn bó với người dân địa phương. Vì thế, xét ở khía cạnh nào đó, CBCC cấp phường chịu sự chi phối, ảnh hưởng bởi những phong tục tập quán làng quê, nét văn hoá đặc thù, bản sắc riêng của địa phương, dòng họ. CBCC cấp xã, phường đông tuy nhiên chất luợng lại yếu, độ tuổi tương đối cao. Hơn nữa, năng lực quản lý và trình dộ chuyên môn của đội ngũ chủ chốt chính quyền cơ sở chưa đồng đều, mặt bằng chung còn thấp, chưa đáp ứng đuợc yêu cầu quản lý nhà nước ở chính quyền cơ sở.
Ðây là một trong những nguyên nhân chính dẫn dến hiệu quả giải quyết công việc của đội ngũ CBCC cấp xã, phường chưa cao. Các tiêu chí đánh giá nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CBCC phường 1. Quy mô, cơ cấu nguồn nhân lực cán bộ, công chức phường Khi đánh giá chất lượng nguồn nhân lực trong tổ chức, trước hết phải nghiên cứu về quy mô và cơ cấu. Quy mô và cơ cấu trong một tổ chức là tỷ lệ lao động của bộ phận nguồn nhân lực của tổ chức phụ thuộc vào khối lượng công việc quản lý trong tổ chức.
Đây là nội dung quan trọng để đánh giá chất lượng của đội ngũ cán bộ công chức. Đội ngũ cán bộ có trình độ cao nhưng khôngđảm bảo quy mô và cơ cấu thì hiệu quả công việc cũng không đạt được. 9 Để đánh giá về quy mô, cơ cấu tổ chức phải dựa trên tiêu chí đủ về số lượng và hợp lý về cơ cấu, cụ thể: - Cơ cấu nguồn nhân lực theo ngành, nghề, địa bàn công tác - Số lượng nguồn nhân lực - Cơ cấu tuổi nhân lực - Chất lượng nguồn nhân lực - Cơ cấu cấp bậc nguồn nhân lực. Nâng cao Chất lượng nguồn nhân lực cán bộ công chức phường 1.1 Chất luợng nguồn nhân lực cán bộ, công chức - Khái niệm chất lượng Chất lượng là một phạm trù trừu tượng, nó mang tính định tính, khó có thể cân đo, đong, đếm được.
Theo từ điển Tiếng Việt thì chất lượng được hiểu là “Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của mỗi con người, sự vật, sự việc”. Theo quan điểm triết học, chất lượng là biểu hiện những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật để phân biệt nó với sự vật khác. Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật, biểu hiện ra bên ngoài qua các thuộc tính.