CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG BẰNG XE BUÝT 1. Tổng quan vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt 1. Khái niệm về Vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt a. Khái niệm về VTHKCC VTHKCC là một bộ phận cấu thành của hệ thống vận tải đô thị.
Hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về VTHKCC, có thể tóm tắt lại hai quan niệm chính như sau [14]: VTHKCC là một bộ phận cấu thành trong hệ thống vận tải, là loại hình vận chuyển có thể đáp ứng khối lượng lớn nhu cầu đi lại của mọi tầng lớp dân cư một cách thường xuyên theo hướng và theo tuyến cố định. Hành khách chấp nhận chi trả giá theo quy định. Khái niệm VTHKCC bằng xe buýt Theo Quyết định số 13/2015/QĐ-TTg có thể hiểu VTHKCC bằng xe buýt là hoạt động vận tải hành khách theo tuyến cố định bằng xe buýt, có các điểm dừng đón, trả khách và phương tiện chạy theo biểu đồ vận hành [5]. − Tuyến xe buýt không được vượt quá phạm vi 02 tỉnh liền kề; trường hợp điểm đầu hoặc điểm cuối của tuyến xe buýt thuộc đô thị loại đặc biệt thì không vượt quá phạm vi 03 tỉnh, thành phố.
[8] − Tuyến xe buýt có các điểm dừng đón, trả khách. Khoảng cách tối đa giữa hai điểm dừng đón, trả khách liền kề trong nội thành, nội thị là 700 mét, ngoại thành, ngoại thị là 3. [8] − Giãn cách thời gian tối đa giữa các chuyến xe liền kề là 30 phút đối với các tuyến trong nội thành, nội thị; 60 phút đối với các tuyến khác; thời gian hoạt động tối thiểu của tuyến không dưới 12 giờ trong một ngày; riêng các tuyến xe buýt có điểm đầu hoặc điểm cuối nằm trong khu vực cảng hàng không hoạt động theo lịch trình phù hợp với thời gian hoạt động của cảng hàng không. [8] Về điều kiện kinh doanh VTHKCC bằng xe buýt: [8] − Xe buýt phải có sức chứa từ 17 hành khách trở lên.
Vị trí, số chỗ ngồi, chỗ đứng cho hành khách và các quy định kỹ thuật khác đối với xe buýt theo quy chuẩn kỹ thuật do Bộ Giao thông vận tải ban hành. Đối với hoạt động kinh doanh vận tải 5 hành khách bằng xe buýt trên các tuyển có hành trình bắt buộc phải qua cầu có trọng tải cho phép tham gia giao thông từ 05 tấn trở xuống hoặc trên 50% lộ trình tuyến là đường từ cấp IV trở xuống (hoặc đường bộ đô thị có mặt cắt ngang từ 07 mét trở xuống) được sử dụng xe ô tô có trọng tải thiết kế từ 12 đến dưới 17 hành khách. − Xe buýt phải có niên hạn sử dụng theo quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều 15 Nghị định này; có màu sơn đặc trưng được đăng ký với cơ quan quản lý tuyến, trừ trường hợp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có quy định cụ thể về màu sơn của xe buýt trên địa bàn. − Từ ngày 01 tháng 7 năm 2016, doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh vận tải hành khách bằng xe buýt phải có số lượng phương tiện tối thiểu như sau: + Đối với đơn vị có trụ sở đặt tại các thành phố trực thuộc Trung ương: Từ 20 xe trở lên; + Đối với đơn vị có trụ sở đặt tại các địa phương còn lại: Từ 10 xe trở lên; riêng đơn vị có trụ sở đặt tại huyện nghèo theo quy định của Chính phủ: Từ 05 xe trở lên [5].
Phân loại VTHKCC bằng xe buýt a. Theo đặc điểm khai thác và phương thức tổ chức vận tải tuyến Trên cơ sở phương pháp điều hành và tổ chức vận tải đã và đang áp dụng trên thế giới hiện nay, có thể chia ra 3 mô hình tổ chức vận tải xe buýt chủ yếu sau đây: Vận tải ô tô buýt trên các tuyến thông thường và hoạt động theo biểu đồ chạy xe (gọi tắt là phương pháp vận tải thông thường). Đặc điểm của phương pháp này là: − Tuyến xe buýt thông thường được thiết lập từ điều kiện nguyên trạng của mạng lưới đường phố và đường ngoại thành; xe buýt chạy chung làn đường với các phương tiện khác; trên tuyến có bố trí các điểm dừng đỗ đón trả khách. − Phương tiện hoạt động theo biểu đồ chạy xe do Công ty, HTX quy định và hành khách thực hiện theo quy định đó (về thời gian, giá cước, hướng đi – đến).
− Phương pháp điều hành phổ thông đơn giản, theo quy trình cổ điển, dễ thực hiện. Tuy nhiên khai thác bằng phương pháp chạy xe theo biểu đồ hiệu quả bị hạn chế vì xe hoạt động trên các tuyến có lưu lượng đi lại cao, không phát huy được tốc 6 độ do bị cản trở bởi các phương tiện khác hoặc tình trạng ùn tắc giao thông. Ngoài ra ô tô buýt bị hạn chế tính chủ động, cơ động của phương tiện do phụ thuộc vào tuyến đường hoạt động; và hành khách phụ thuộc vào chất lượng hoạt động của xe và lịch trình chạy xe. Tuyến vận tải xe buýt có đường riêng (tuyến vận tải xe buýt có đường ưu tiên): đặc điểm của loại hình xe buýt này là xe buýt được chạy trên làn đường dành riêng (2 chiều) trên đường phố, kể cả những đường mà phương tiện khác không được phép đi.
− Tuyến xe buýt có đường riêng khắc phục được nhược điểm của tuyến xe buýt thông thường là không bị hạn chế về tốc độ do không chạy cùng làn đường với các phương tiện khác. Nhờ đó tốc độ vận tải được nâng cao, đảm bảo thời gian đi lại cho hành khách, nâng cao sản lượng vận chuyển và nâng cao an toàn, tiện nghi trong đi lại. − Tuy nhiên việc tổ chức thực hiện tuyến xe buýt có đường riêng chỉ được thực hiện ở những tuyễn phố rộng, có đủ không gian và điều kiện tổ chức khai thác. Việc mở tuyến xe buýt có đường riêng sẽ ảnh hưởng tới hoạt động giao thông bình thường trên đường phố (chiếm diện tích đường giao thông…) và có thể sẽ làm tăng đáng kể chi phí vận tải nếu không được quy hoạch và tổ chức tốt.
Theo phạm vi hoạt động của xe buýt Hiện nay căn cứ vào quy định về quản lý VTHKCC bằng xe buýt được ban hành năm 2006, có thể chia ra các loại xe buýt theo tuyến đường hoạt động như sau: − Tuyến xe buýt đô thị là tuyến xe buýt có điểm đầu, điểm cuối tuyến trong đô thị; − Tuyến xe buýt nội tỉnh là tuyến xe buýt hoạt động trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nối các thành phố, thị xã, huyện, khu công nghiệp, khu du lịch; − Tuyến xe buýt lân cận là tuyến xe buýt có lộ trình đi từ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đến các tỉnh lân cận, các khu công nghiệp, khu du lịch (điểm đầu, điểm cuối và lộ trình của một tuyến không vượt quá 2 tỉnh, thành phố; nếu điểm đầu hoặc điểm cuối cuối thuộc đô thị loại đặc biệt thì tuyến không vượt quá 3 tỉnh, thành phố). Đặc điểm, vai trò và hiệu quả của VTHKCC bằng xe buýt a. Đặc điểm của VTHKCC bằng xe buýt − Có tính cơ động cao, không phụ thuộc vào mạng dây dẫn hoặc đường ray, không cản trở và dễ hòa nhập vào hệ thống giao thông đường bộ trong thành phố. − Khai thác, điều hành đơn giản, có thể nhanh chóng điều chỉnh chuyến lượt, thay xe trong thời gian ngắn mà không ảnh hưởng đến hoạt động của tuyến.
− Hoạt động có hiệu quả với các dòng hành khách có công suất nhỏ và trung bình. Đối với các luồng hành khách có hệ số biến động cao về thời gian và không gian vận tải có thể giải quyết thông qua việc lựa chọn loại xe thích hợp và một biểu đồ vận hành hợp lý. − Vận tải xe buýt cho phép phân chia nhu cầu đi lại ra các tuyến (đường phố) khác nhau trên cơ sở mạng lưới đường thực tế để điều tiết mật độ đi lại chung. − Có chi phí đầu tư tương đối thấp so với các phương tiện VTHKCC hiện đại.
Cho phép tận dụng mạng lưới đường hiện tại của thành phố. Chi phí vận hành thấp, nhanh chóng đem lại hiệu quả. Nhược điểm trong khai thác VTHKCC bằng xe buýt ở đô thị [15] − So với các phương thức VTHKCC khối lượng lớn khác thì xe buýt có năng lực vận chuyển thấp hơn, khả năng sử dụng vượt trọng tải thấp (do sử dụng bánh hơi). − Do sử dụng trong khu vực đô thị, thường có mật độ đi lại dày đặc nên xe buýt thường không phát huy được tốc độ, có sự sai lệch về tốc độ khai thác giữa các giờ hoạt động (giờ cao điểm và giờ bình thường).
− Về phương diện môi trường, hiện nay đa phần xe buýt đô thị sử dụng nhiên liệu diezel hoặc xăng nên gây ô nhiễm môi trường đô thị về khí thải, bụi và tiếng ồn. Vai trò và hiệu quả của VTHKCC bằng xe buýt Vận tải hành khách công cộng là một loại hình vận tải quan trọng trong giao thông đô thị nói riêng và giao thông vận tải nói chung. Cùng với sự phát triển của quá trình đô thị hóa, VTHKCC tạo thuận lợi cho việc phát triển chung của đô thị, đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân trong và ngoài đô thị với nhu cầu luồng hành khách lớn. Mặt khác, VTHKCC cũng là nhân tố quan trọng trong việc tiết kiệm thời 8 gian đi lại của người dân, đảm bảo an toàn giao thông cũng như bảo vệ môi trường đô thị.
Vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt là loại hình vận tải thông dụng nhất trong hệ thống VTHKCC. Nó đóng vai trò chủ yếu trong vận chuyển hành khách ở những vùng đang phát triển của thành phố, những khu vực trung tâm và đặc biệt là ở những thành phổ cổ. Kinh nghiệm phát triển giao thông của các đô thị trên thế giới cho thấy ở các thành phố quy mô dân số < 500.000 dân thì xe buýt là phương thức đi lại chủ yếu của người dân. Đối với các đô thị vừa và nhỏ vận tải xe buýt thường đảm nhận 60 – 80% khối lượng vận chuyển của cả hệ thống VTHKCC.
Ngoài chức năng vận chuyển độc lập nhờ tính năng cơ động, xe buýt còn được sử dụng như là một phương tiện tiếp chuyển và vận chuyển kết hợp với các phương thức vận tải khác trong hệ thống vận tải hành khách công cộng cũng như hệ thống vận tải đối ngoại của đô thị.