Chương 1: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu Chương 2: Thực trạng hoạt động và chất lượng dịch vụ tại Công ty TNHH MTV Sài Gòn Thành Phố Mở Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm gia tăng sự thỏa mãn của khách hàng tại Công ty TNHH Một Thành Viên Sài Gòn Thành Phố Mở đến năm 2023 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ 1.1 Khái niệm Dịch vụ vốn được mệnh danh là ngành công nghiệp không khói, mang lại giá trị kinh tế cao cho mỗi quốc gia. Hiện nay, có rất nhiều cách định nghĩa về dịch vụ, theo Luật giá năm 2013: Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật. Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận. (Luật Thương mại 2005) Một vài chuyên gia định nghĩa dịch vụ như sau: Theo Valarie A Zeithaml và Mary J Bitner (2000) thì “Dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo gia tri sw dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng”.
Theo học giả Bùi Nguyên Hùng (2010) thì “Dịch vụ là một quá trình gồm các hoạt động hậu đải và các hoạt động phía trước, nơi mà khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ tương tác với nhau. Mục đích của tương tác này là nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng theo cách khách hàng mong đợi, cũng như tạo ra giá trị cho khách hàng” Theo học giả Nguyễn Văn Thanh (2013) cho rằng: “Dịch vụ là một hoạt động lao động sáng tạo nhằm bổ sung giá trị cho phan vat chất và làm đa dạng hoá, phong phú hoá, khác biệt hoá, nổi trội hoá. mà cao nhất trở thành những thương hiệu, những nét văn hoá kinh doanh và làm thỏa mãn cao cho người tiêu dùng để họ sẵn sàng trả tiền cao, nhờ đó kinh doanh có hiệu quả hơn”.2 Đặc điểm Dịch vụ khác với các loại hàng hóa hữu hình khác vì những đặc thù hay tính chất riêng của nó. Dịch vụ là một “sản phẩm đặc biệt” có nhiều đặc tính khác với các loại hàng hóa khác như tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thê tách rời và tính không thê cất trữ (Berry&Seider et al, 2002).
Các đặc tính này làm cho dịch vụ khó định lượng và chúng ta không thể nhận dạng chúng bằng mắt thường được. Tinh v6 hinh (intangible) Tính vô hình được coi là một đặc điểm chính của dịch vụ, dịch vụ được xem như vô hình bởi vì khác với hàng hóa hữu hình,chúng ta không thể nhìn được, nếm được, cảm nhận, nghe thay. Hơn nữa, dịch vụ cho phép người tiêu dùng trải nghiệm và trải nghiệm này không thê dẫn đến quyền sở hữu (Edgett và Parkinson, 1993). Tính không thể tách rời (inseparable) Tỉnh không thể tách rời là đặc trưng của hầu hết tất cả các dịch vụ, hàm ý sản xuất và tiêu thụ gần như là đồng thời; khác với sản xuất là làm ra sản phẩm trước rồi sau đó mới đưa vào khâu bán và tiêu thụ sản phẩm; dịch vụ thì bán trước rồi mới cung ứng và tiêu thụ đồng thời (Zeithaml và cộng sự, 1985).
Vì tính không thể tách rời nên khách hàng hầu như cảm nhận dịch vụ ngay từ giai đoạn đầu của quá trình sản xuất dịch vụ và đóng vai trò tích cực trong quá trình phát triển dịch vụ (Keh and Pang, 2010). Tính không thể lưu trữ (perishable) Tính không thể lưu trữ của dịch vụ nghĩa là địch vụ không thê lưu trữ để bán hoặc sử dụng trong tương lai (Zeithaml va cộng sự, 1985). Dịch vụ được ví như là những buổi biểu diễn không thể lưu trữ được và chúng nên được tiêu thụ khi được sản xuất (Edgett và Parkinson, 1993). Tính không thê lưu trữ của dịch vụ không phải là vấn đề khi mà nhu cầu luôn tồn tại ôn định.
Tuy nhiên, khi cung vượt quá cầu hoặc cầu vượt quá cung thì các nhà cung ứng dịch vụ sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn và phải có những chiến lược thích ứng phù hợp với sự biến động của nhu cầu (Zeithaml và cộng sự, 1985). Tính đa chủng loại (variable) Tính đa chủng loại của dịch vụ được hiểu là khả năng thực hiện dịch vụ mỗi lần mỗi khác nhau; nghĩa là mỗi dịch vụ được tạo ra sau này sẽ có sự khác biệt ít hoặc nhiều với những dịch vụ được tạo ra trước đó. Cùng một dịch vụ nhưng những nhà cung cấp khác nhau sẽ tạo ra chất lượng khác nhau tùy vào hiệu quả và năng lực của nhà sản xuất hoặc cùng một nhà sản xuất sẽ cho ra dịch vụ có chất lượng khác nhau tùy thuộc vào đối tượng khách hàng, thời gian và một số yếu tố khác (Zeithaml và cộng sự, 1985).2 Khái niệm và các thành phần của chất lượng dịch vụ 1.1 Khái niệm về chất lượng dịch vụ Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về chất lượng dịch vụ tùy vào đối tượng và môi trường nghiên cứu. Để thực hiện các biện pháp cải tiến chất lượng dịch vụ doanh nghiệp phải tìm hiểu và đánh giá chất lượng dịch vụ của mình.
Do đó, việc định nghĩa chất lượng dịch vụ không chỉ đóng vai trò quan trọng khi xây dựng mục tiêu phát triển mà còn tạo nền tảng cho các doanh nghiệp định hướng và phát huy được ưu điểm của mình theo cách tốt nhất. Nhiều chuyên gia đưa ra một vài định nghĩa về chất lượng dịch vụ như sau: - Chất lượng dịch vụ là những gì khách hàng cảm nhận được khi sử dụng dịch vụ và tương xứng với kỳ vọng trước đó của họ. Theo đó, kỳ vọng trong chất lượng dịch vụ là những mong muốn của khách hàng về những điều mà nhà cung cấp dịch vụ phải thực hiện chứ không phải sẽ thực hiện các yêu cầu về dịch vụ (Parasuraman, Zeithaml va Berry, 1985). - Theo tac giả Svensson (2002) thì dịch vụ chứa các đặc điểm ngoại lệ khi so sánh với các sản phẩm hữu hình khác.
Khi tạo ra một sản phẩm dịch vụ nào đó doanh nghiệp có thể hoặc không sử dụng những hàng hóa hữu hình khác để tạo ra dịch vụ. Ngoài ra, đặc trưng nổi bật nhất là khó thu thập được các đánh giá của khách hàng sử dụng dịch vụ tại thời điểm trước khi sử dụng, trong khi sử dụng và sau khi sử dụng. Trong quá trình sử dụng dịch vụ, chất lượng dịch vụ được thé hiện trong suốt quá trình tương tác qua lại giữa khách hàng với nhân viên của nhà cung cấp dịch vụ. - Theo Bùi Nguyên Hùng và Nguyễn Thúy Quỳnh Loan (2010), cho rằng khách hàng sử dụng dịch vụ thường có cảm nhận khác nhau về chất lượng, vì vậy việc đánh giá và phát triển chất lượng dịch vụ rất cần sự tham gia của khách hàng.
Hay, chúng ta có thể dựa vào nhận thức hoặc cảm nhận của khách hàng về loại sản phẩm đó đề xác định chất lượng dịch vụ mà họ sử dụng. - Theo ISO 8402 cho rang chat lượng dịch vụ là: “Tập hợp các đặc tính của một đối tượng, tạo cho đối tượng đó khả năng thỏa mãn những yêu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ân”. Chất lượng dịch vụ là sự thỏa mãn khách hàng dựa trên những kỳ vọng của khách hàng và chất lượng đạt được. Nếu chất lượng dịch vụ đạt được cao hơn chất lượng khách hàng kỳ vọng thì coi như chất lượng dịch vụ tốt, ngược lại, nếu chất lượng dịch vụ đạt được thấp hơn chất lượng dịch vụ khách hàng kỳ vọng thì chất lượng dịch vụ đó là kém.
Tóm lại, từ các định nghĩa trên cho thấy để định nghĩa chính xác chất lượng dịch vụ cần dựa vào nhiều yếu tố như: khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng, kỳ vọng của khách hàng đối với dịch vụ đó.Để đáp ứng những nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp có thể chia sẻ, tiếp thu ý kiến phản hồi từ khách hàng với nhiều hình thức. Như vậy, sẽ tạo cho doanh nghiệp một vị trí vững chắc để cạnh tranh với các doanh nghiệp khác khi khách hàng sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp 1.2 Các thành phần của chất lượng dịch vụ Đề thu thập và đánh giá được sự thỏa mãn của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ là điều không đễ dàng do mỗi loại dịch vụ có những tính chất đặc thù riêng. Khách hàng luôn kỳ vọng nhận được những dịch vụ tốt nhất so với nhu cầu và đây cũng là điều mà các nhà quản lý, nhà cung cấp luôn quan tâm đặc biệt để thỏa mãn những khách hàng của mình. Tác giả muốn đề cập đến hai mô hình được sử dụng khá phổ biến dé đánh giá đo lường chất lượng dịch vụ là mô hình của Gronroos (1984) và mô hình của 10 Parasuraman & Các cộng sự (1985).
Nội dung được trình bày trong Hình 1.1: Mô hình chất lượng dịch vụ, mô hình của Parasuraman & Các cộng sự (1985) là mô hình được sử dụng phô biến hơn để đánh giá chất lượng dịch vụ với 5 khoảng cách. Khoảng cách 1: là khoảng cách xuất hiện khi có sự khác biệt giữa kỳ vọng của khách hàng về chất lượng dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ cảm nhận về những kỳ vọng khi khách hàng sử dụng dịch vụ của mình. Điều cơ bản của khác biệt này là do nhà cung cấp dịch vụ không hiểu hết được những đặc điểm nào tạo ra chất lượng của sản phẩm dịch vụ cũng như cách chuyển giao chúng đến khách hàng để thỏa mãn nhu cầu của họ. Khoảng cách 2: Xuất hiện khi nhà cung cấp dịch vụ gặp khó khăn trong việc chuyển đổi nhận thức về kỳ vọng của khách hàng thành những đặc tính của chất lượng, là khoảng cách khác biệt giữa các đặc tính của chất lượng dịch vụ với nhận thức của nhà quản lý.
Nguyên nhân chính là khi doanh nghiệp hiểu rõ những kỳ vọng, mong muốn của khách hàng và bị tác động bởi mức độ cam kết về chất lượng dịch vụ, mục tiêu chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp, việc chuẩn hóa các nhiệm vụ hành động và hiệu quả của việc đáp ứng mong muốn của khách hàng.