Chương 1 tác giả đ n u được lý do tại sao chọn đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ thẻ thanh toán tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh huyện Long Thành”, sơ lược về lịch sử nghiên cứu các đề tài có liên quan. Xác định tình cấp thiết, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. ơ lược về phương pháp nghi n cứu, nêu lên tính mới và kết cấu của bài nghiên cứu. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẺ THANH TOÁN VÀ DỊCH VỤ THẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại [3] 2.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại - Luật các tổ chức tín dụng định nghĩa: N M là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan.
Luật này c n định nghĩa: ổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp được thành lập th o quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán. - Luật Ngân hàng nhà nước định nghĩa: oạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán.2 Chức năng hoạt động của Ngân hàng thương mại NHTM có 3 chức năng cơ bản: - Chức năng trung gian tài chính. - Chức năng tạo tiền. - Chức năng sản xuất.3 Các sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng thương mại Các sản phẩm và dịch vụ NHTM có thể cung cấp bao gồm: - Các sản phẩm huy động vốn như tiền gửi và chứng từ có giá các loại.
- Các sản phẩm cấp tín dụng như cho vay doanh nghiệp, cho vay cá nhân, cho vay tiêu dùng, cho vay sản xuất, tài trợ xuất nhập khẩu, tài trợ dự án, cho thuê tài chính… - Các sản phẩm thẻ như thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, thẻ A M, … 8 - Các dịch vụ ngân hàng như dịch vụ chuyển tiền, thanh toán không dùng tiền mặt, thanh toán quốc tế, … - Các sản phẩm kinh doanh ngoại tệ như các hợp đồng giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi, giao sau, quyền chọn, … 2.2 Tổng quan về thẻ thanh toán và dịch vụ thẻ thanh toán 2.1 Sự ra đời và phát triển của thẻ thanh toán và dịch vụ thẻ thanh toán trên thế giới [7] Mỗi giai đoạn lịch sử kinh tế khác nhau có những hình thái tiền tệ khác nhau. rước đây, người ta dùng vỏ sò, vỏ hến, những vật không có giá trị để trao đổi, tiếp đến là những thứ có giá trị cao như vàng, bạc, châu báu làm phương tiện lưu thông và tích trữ. Thế rồi, theo quy luật phủ định của phủ định, con người lại sử dụng những thứ không có giá trị như giấy để làm tiền rồi đến các hình thái bút tệ khác (séc, hối phiếu, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, lệnh chuyển tiền) vốn đ được sử dụng rất phổ biến cho đến nay. Cùng với các h nh thái tr n, người ta lại đưa ra một hình thái thanh toán rất mới đó là tiền điện tử (hay còn gọi là tiền plastic, tiền thông minh).
Thực chất, tiền điện tử không phải là một hệ thống tiền tệ mới mà là một hình thức hiện đại hơn của đồng tiền ghi sổ được hỗ trợ bởi các kỹ thuật về vi tính, từ tính, điện tử… cho ph p thực hiện giao dịch, trao đổi. Lịch sử h nh thành phương thức thanh toán bằng thẻ nói chung được ghi nhận vào năm 1914, khi đó một công ty của Mỹ là W st rn Union đ cung cấp một dịch vụ thanh toán theo yêu cầu của khách hàng. h o đó công ty này phát hành một tấm thẻ bằng kim loại với một số thông tin được in nổi l n tr n để đảm bảo hai chức năng cơ bản là: nhận dạng được khách hàng và có thể lưu giữ lại các thông tin được in nổi trên tấm kim loại. Thấy được sự tiện lợi của thẻ Western Union, công ty General Petroleum của Mỹ c ng đ phát hành thẻ ăng dầu đầu ti n vào năm 1924, cho phép khách hàng có thể mua ăng dầu tại các cửa hàng của công ty tr n toàn nước Mỹ.
Như vậy có thể nói những tấm thẻ kim loại là nền tảng cho việc ra đời những tấm thẻ nhựa sau này. Tấm thẻ nhựa đầu ti n được phát hành vào năm 1950 bởi công ty Dinners Club. Khi đó ông Frank McNamara người sáng lập ra công ty Dinn rs Club, đ 9 hết sức bối rối sau khi tham gia một buổi tiệc tại nhà hàng mà quên mang theo ví tiền. Ông đ nảy ra ý định phát hành những tấm thẻ nhựa để khách hàng có thể thanh toán sau.
Đến năm 1958, công ty Am rican E pr ss đ phát hành các thẻ nhựa, trong đó tập trung vào các lĩnh vực du lịch và giải trí. au đó, vào cuối những năm 1960, một số ngân hàng của Mỹ đ li n kết lại với nhau để phát hành thẻ của ngân hàng m nh, đây là cơ sở để hình thành hai loại thẻ sử dụng phổ biến nhất thế giới ngày nay: thẻ Visa và Master. Ngày nay, có thể nói các loại thẻ nhựa n u tr n được khách hàng ưa chuộng và sử dụng rộng rãi trên thế giới. Các loại thẻ này c ng đ du nhập vào Việt Nam vào đầu những năm 90 của thế kỷ trước.
ong, cho đến nay tiền mặt vẫn là phương tiện thanh toán phổ biến trong đời sống.2 Khái niệm, đặc điểm cấu tạo và phân loại thẻ thanh toán 2.1 Khái niệm thẻ thanh toán [7] Có rất nhiều khái niệm để diễn đạt thẻ thanh toán: - Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ mà không cần dùng tiền mặt hoặc có thể được dùng để rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý hay các máy rút tiền tự động ATM. - Thẻ thanh toán là một loại thẻ giao dịch tài chính được phát hành bởi ngân hàng, các định chế tài chính hay các công ty. - Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt mà người chủ thẻ có thể sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ tại các điểm chấp nhận thanh toán. - Thẻ thanh toán là một phương thức ghi sổ những số tiền cần thanh toán thông qua máy đọc thẻ phối hợp với hệ thống nối mạng vi tính kết nối trung tâm phát hành thẻ với các điểm thanh toán.
Nhờ vậy, việc thanh toán trở nên nhanh chóng, thuận lợi và khá an toàn cho các đối tượng tham gia. Nhìn chung thẻ thanh toán là một phương thức thanh toán mà người sở hữu thẻ có thể d ng để thanh toán tiền, hàng hóa, dịch vụ hay rút tiền tự động thông qua máy đọc thẻ được lắp đặt ở các cơ sở chấp nhận thanh toán thẻ (cửa hàng, khách sạn, sân bay, …), ở các máy rút tiền tự động lắp đặt nơi công cộng.2 Đặc điểm cấu tạo thẻ thanh toán [2] Đặc điểm chung: - Chất liệu: Plastic. - Kích cỡ tiêu chuẩn: 5. - Các thông tin cần có trên thẻ: Nhãn hiệu thương mại của thẻ, số hiệu của thẻ, số thẻ, tên chủ thẻ và ngày hiệu lực.
- Các thông tin chi tiết ở mặt trước và sau của thẻ: + Mặt trước của thẻ: hương hiệu của tổ chức thẻ quốc tế. Tên tổ chức ngân hàng phát hành thẻ. Biểu tượng của thẻ. Ngày hiệu lực của thẻ.
Họ và tên chủ thẻ. Ký tự an ninh trên thẻ, số mật mã của đợt phát hành. + Mặt sau của thẻ: Giải từ tính.3 Phân loại thẻ thanh toán [7] a. Phân loại theo công nghệ sản xuất - Thẻ khắc chữ nổi ( mbossing card): được làm dựa trên kỹ thuật khắc chữ nổi các thông tin cần thiết, hiện nay người ta không dùng nữa vì kỹ thuật sản xuất thô sơ, dễ bị làm giả.
- Thẻ băng từ (magn tic strip card): được sản xuất dựa trên kỹ thuật thư tín với hai băng chứa thông tin ở mặt sau của thẻ. Loại này được sử dụng phổ biến trong v ng 20 năm nay, nhưng đ bộc lộ một số nhược điểm: + Khả năng bị lợi dụng cao do thông thông tin ghi trong thẻ không tự mã hóa được, người ta có thể đọc thẻ dễ dàng bằng thiết bị đọc gắn với máy tính. + Thẻ từ chỉ mang thông tin cố định, khu vực chứa tin hẹp, không áp dụng được các kỹ thuật m đảm bảo an toàn. 11 Do những nhược điểm trên, thẻ băng từ những năm gần đây đ bị lấy cắp tiền rất nhiều.
- Thẻ thông minh (smart card): là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán. Thẻ thông minh dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học nhờ có gắn một “chip” điện tử có cấu trúc giống như một máy tính hoàn hảo. Thẻ thông minh có nhiều nhóm với dung lượng nhớ của một “chip” điện tử khác nhau. Phân loại theo chủ thể phát hành thẻ - Thẻ do ngân hàng phát hành (bank card): loại thẻ giúp khách hàng sử dụng linh hoạt tài khoản của mình tại ngân hàng hoặc sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp tín dụng.
Đây là loại thẻ được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay, có thể lưu hành toàn cầu. - Thẻ do các tổ chức phi ngân hàng phát hành (non-bank card): thẻ du lịch và giải trí của các tập đoàn kinh doanh lớn phát hành như Dinn rs Club, Am rican E pr ss… hoặc được phát hành bởi các công ty ăng dầu, các cửa hiệu lớn. Phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ - Thẻ tín dụng (credit card): là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất. Sử dụng thẻ này, người chủ thẻ được phép sử dụng một hạn mức tín dụng không phải trả l i để mua sắm hàng hóa, dịch vụ tại những cơ sở kinh doanh, cửa hàng, khách sạn, sân bay,…Thẻ tín dụng được m như thẻ thanh toán vì chúng thường được phát hành bởi các ngân hàng, nơi quy định một hạn mức tín dụng nhất định cho từng chủ thẻ hay nói cách khác chủ thẻ chỉ được chi tiêu trong hạn mức đ cho.
Nếu chủ thẻ trả hết tiền nợ vào cuối tháng cho ngân hàng thì họ không phải trả lãi cho hết số tiền nợ vào cuối tháng. Còn nếu chủ thẻ không thanh toán hết được nợ thì sẽ phải trả lãi cho số tiền còn nợ theo một mức lãi suất định trước.