Chương 1: Cở sở lý luận về chất lượng dịch vụ logistics. Nghiên cứu trình bày cơ sở lý luận chất lƣợng dịch vụ logistics nhƣ các khái niệm về logistics, dịch vụ logistics và chất lƣợng dịch vụ logistics cũng nhƣ tầm quan trọng của chất lƣợng dịch vụ logistics. Bên cạnh đó, bài viết đã trình bày cũng nhƣ so sánh các nghiên cứu về chất lƣợng dịch vụ logistics làm cơ sở để lựa chọn và đƣa ra khái niệm từng yếu tố chất lƣợng dịch vụ logistics Chương 2: Thực trạng chất lượng dịch vụ logistics tại Công ty Cổ phần Bao bì Biên Hòa. Chƣơng 2 tác giả đã nêu lên tổng quan chung về Công ty Cổ phần Bao Bì Biên Hòa.
Sau đó tác giả đánh giá thực trạng chất lƣợng dịch vụ logistics của Công ty dựa trên số liệu sơ cấp kết hợp với dữ liệu thứ cấp. Tác giả phân tích thực trạng từng yếu tố chất lƣợng dịch vụ logistics và nêu lên những ƣu điểm, nhƣợc điểm và nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại tại Công ty. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ logistics tại Công ty Cổ phần Bao Bì Biên Hòa giai đoạn 2015 - 2020. Chƣơng 3 tác giả đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lƣợng dịch vụ logistics tại Công ty Cổ phần Bao bì Biên Hòa giai đoạn 2015 – 2020 bám sát với thực trạng của các nhân tố đã đƣợc khảo sát trong đánh giá chất lƣợng dịch vụ logistics dựa trên định hƣớng và mục tiêu phát triển của công ty.
Bên cạnh đó, tác giả cũng đƣa ra các kiến nghị đối với công ty nhằm giúp cho hoạt động logistics phát triển mạnh mẽ và bền vững. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƢỢNG DỊCH VỤ LOGISTICS 1. Khái niệm về logistics và dịch vụ logistics 1. Khái niệm logistics Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về logistics theo nhiều hƣớng tiếp cận khác nhau và có nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “logistics”.
Trong bài luận văn, tác giả trích lƣợc một số định nghĩa logistics nhằm củng cố cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu của mình, bao gồm: Theo Martin Christopher trích trong Đoàn Thị Hồng Vân (2010, trang 31) “Logsistics là quá trình quản lý chiến lƣợc thu mua, di chuyển và dự trữ nguyên liệu, bán thành phẩm, thành phẩm (và dòng thông tin tƣơng ứng) trong một công ty và qua các kênh phân phối của công ty để tối đa hóa lợi nhuận hiện tại và tƣơng lai thông qua việc hoàn tất các đơn hàng với chi phí thấp nhất”. Còn theo quan điểm “5 đúng” (“5 Right”) của Douglas M.Lambert và cộng sự (1998) trích trong Đoàn Thị Hồng Vân (2010, trang 31) thì “Logistics là quá trình cung cấp đúng sản phẩm đến đúng vị trí, vào đúng thời điểm với đúng điều kiện và chi phí phù hợp cho khách hàng tiêu dùng sản phẩm”. Theo David Simchi-Levi trích trong Đoàn Thị Hồng Vân (2010, trang 31) thì “Hệ thống logistics là một nhóm các cách tiếp cận đƣợc sử dụng để liên kết các nhà cung cấp, nhà sản xuất, kho, cửa hàng, một cách hiệu quả để hàng hóa đƣợc sản xuất và phân phối đúng số lƣợng, đúng địa điểm và đúng thời điểm nhằm mục đích giảm thiểu chi phí trên toàn hệ thống đồng thời đáp ứng đƣợc yêu cầu về mức độ phục vụ”. Theo Đoàn Thị Hồng Vân (2010, trang 31-32) thì “Logistics là quá trình tối ƣu hóa về vị trí và thời điểm, vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của chuỗi cung ứng qua các khâu sản xuất, phân phối cho đến tay ngƣời tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”.
Chắc chắn cùng với sự phát triển của logistics sẽ xuất hiện thêm nhiều khái niệm mới, trong bài viết này tác giả sử dụng khái niệm “Logistics là quá trình tối ƣu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 hóa về vị trí và thời điểm, vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của chuỗi cung ứng qua các khâu sản xuất, phân phối cho đến tay ngƣời tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”. Nhƣ vậy, cốt lõi của logistics là tối ƣu, là hiệu quả và ở đây bên cạnh tính tối ƣu hóa về địa điểm/vị trí, còn có tối ƣu hóa về thời gian, vì trong nền kinh tế tri thức “đúng lúc”, “đúng thời điểm” có ý nghĩa đặc biệt quan trọng (Đoàn Thị Hồng Vân, 2010). Khái niệm dịch vụ logistics Trong môi trƣờng kinh doanh ngày nay, cạnh tranh bằng dịch vụ là một điều tất yếu, bởi vì ngƣời mua có thể lựa chọn các sản phẩm tƣơng tự nhƣ nhau từ nhiều nhà cung cấp khác nhau (Ellinger và cộng sự, 1997). Trong nhiều trƣờng hợp, các sản phẩm đƣợc coi là đồng nhất, và có rất ít, nếu có sự khác biệt giữa các nhà cung cấp khác nhau (Parasuraman và cộng sự, 1985).
Do đó, ngƣời bán phải tìm một cái gì đó để phục vụ nhƣ là một sự cạnh tranh khác biệt và dịch vụ logistics đƣợc xem là một ứng cử viên (Ellinger và cộng sự, 1997). Các đặc điểm cơ bản của dịch vụ logistics đƣợc xác định và tóm tắt nhƣ sau: Theo Daskin (1985) trích trong Bienstock và cộng sự (2008) dịch vụ logistics liên quan đến việc thiết kế và vận hành hệ thống liên tổ chức, hệ thống này cho phép hàng hóa vƣợt qua hạn chế thời gian và không gian. Logistics là một quá trình tích hợp liên quan đến một mạng lƣới của các tổ chức, sự phối hợp với khách hàng và nhà cung cấp là bƣớc đầu để cải thiện hiệu quả dịch vụ (Ying Wang và cộng sự, 2013). Về bản chất, logistics là một cách tiếp cận tích hợp sự tƣơng tác của các chức năng và quá trình khác nhau trong một tổ chức và mở rộng ra một mạng lƣới của các tổ chức với mục đích giảm chi phí và thỏa mãn khách hàng (Bichou và Gray, 2004).
Do vậy, mức độ liên kết chặt chẽ đồng thời của quá trình nội bộ và bên ngoài sẽ giúp logistics đạt đƣợc hiệu quả tối ƣu (Ying Wang và cộng sự, 2013). Dịch vụ phân phối vật chất, một loại của dịch vụ logistics (Mentzer và cộng sự, 2001) liên quan đến tập hợp các hoạt động (bao gồm kho bãi, vận chuyển, quản lý hàng tồn kho) các hoạt động này nhằm mục đích bảo đảm khách hàng nhận đƣợc hàng hóa trong đơn hàng một cách chính xác và kịp thời (Perreault và cộng sự, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Dịch vụ phân phối vật chất có thể định nghĩa một cách chính thức là một tập hợp các hoạt động có liên quan đến nhau đƣợc thực hiện bởi các nhà cung cấp để đảm bảo rằng hàng hóa đƣợc cung cấp sẵn sàng theo yêu cầu của khách hàng (Perreault và cộng sự, 1976). Những hoạt động này bao gồm các hoạt động liên quan đến quản lý trang thiết bị (ví dụ đóng gói, bốc xếp và lƣu trữ), vận chuyển hàng hóa từ nhà vị trí nhà cung cấp đến các điểm đến xác định của khách hàng, và quản lý nhà kho lƣu trữ và những phƣơng tiện khác hỗ trợ hiệu quả cho vận chuyển hàng hóa.
Các giám đốc điều hành ngày càng quan tâm nhiều hơn đến việc cung cấp dịch vụ logistics xuất sắc, dịch vụ logistics mang đến nhiều cơ hội giúp công ty tạo ra giá trị gia tăng cho khách hàng. Khách hàng luôn mong muốn sản phẩm của họ đƣợc giao đúng giờ, đúng số lƣợng, chất lƣợng, đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, tại mức chi phí thấp nhất có thể và mỗi khách hàng khác nhau có những yêu cầu khác nhau. Nếu công ty có thể cung cấp các dịch vụ thích hợp với các nhóm khách hàng khác nhau, dịch vụ logistics sẽ góp phần tạo ra giá trị gia tăng cho khách hàng. Một công ty có thể sử dụng một số công cụ trên thị trƣờng để đáp ứng những nhu cầu khác nhau của khách hàng, Philip Kotler mô tả những công cụ đó nhƣ hỗn hợp marketing, bao gồm bốn yếu tố: sản phẩm, giá, phân phối và chiêu thị.
Dịch vụ logistics có thể đƣợc xem là yếu tố phân phối của hỗn hợp marketing, liên quan đến tất cả các vấn đề phân phối sản phẩm đến khách hàng.Vì vậy, dịch vụ logistics đƣợc định nghĩa là quá trình cung cấp sản phẩm và/hoặc dịch vụ cho khách hàng, theo cách thức tạo ra giá trị gia tăng cho khách hàng (Van der Veeken và Rutten, 1998). Điều này có nghĩa rằng một phần giá trị sản phẩm đƣợc tạo ra bởi dịch vụ logistics, vì vậy chiến lƣợc logistics cần tập trung vào các hoạt động logistics tạo giá trị gia tăng phù hợp cho khách hàng (Bichou và Gray, 2004). Chất lƣợng dịch vụ logistics 1. Khái niệm về chất lượng dịch vụ logistics Dịch vụ logistics đòi hỏi cả nâng cao dịch vụ và giảm chi phí, nhƣng hiểu đƣợc logistics từ quan điểm khách hàng có thể giúp nâng cao các dịch vụ cung cấp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 và là một công cụ tạo ra sự khác biệt (Mentzer và cộng sự, 2001).
Tìm hiểu mong đợi của khách hàng về dịch vụ, các công ty có thể tập trung vào các yếu tố dịch vụ có ảnh hƣởng nhiều nhất đến hành vi trong tƣơng lai của khách hàng (Davis, 2006). Dịch vụ khách hàng bao gồm hai khía cạnh, thứ nhất là dịch vụ khách hàng cơ bản, liên quan đến chu kỳ đặt hàng, giao hàng đúng hạn và sự sẵn có hàng tồn kho, khía cạnh thứ hai là sự đáp ứng, đại diện cho khả năng thích ứng với sự thay đổi theo định hƣớng thị trƣờng (Davis, 2006). Collier (1991) trích trong Davis (2006) cho thấy rằng dịch vụ bao gồm hai yếu tố khác nhau: một yếu tố nội bộ hay yếu tố định hƣớng hoạt động của hiệu quả chất lƣợng dịch vụ, và một yếu tố bên ngoài hay định hƣớng tiếp thị. Nhƣ vậy, chất lƣợng dịch vụ bao gồm hai khía cạnh quan trọng là hiệu quả của các yếu tố hoạt động và hiệu quả của các yếu tố quan hệ, những doanh nghiệp thành công thực hiện tốt cả hai yếu tố trên, ví dụ, họ hiểu rõ nhu cầu và mong đợi của khách hàng và có khả năng cung cấp chất lƣợng dịch vụ để đáp ứng chúng một cách hiệu quả (Schlesinger và Heskett, 1991).
Chất lƣợng dịch vụ logistics hoạt động đƣợc định nghĩa là nhận thức đối với các hoạt động logistics đƣợc thực hiện bởi nhà cung cấp dịch vụ góp phần vào chất lƣợng phù hợp, năng suất và hiệu quả. Yếu tố hoạt động bao gồm tính năng vật chất của dịch vụ, ví dụ, đặc điểm của giao hàng đƣợc định nghĩa là tiện ích hình thức, thời gian, địa điểm của dịch vụ.