MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài Việt Nam là đất nước có hơn bốn ngàn năm lịch sử, cùng với một nền giáo dục đã được hình thành lâu đời, dân tộc Việt Nam luôn được bạn bè khắp năm châu ngưỡng mộ về sự hiếu học, cần cù thông minh. Vì thế, không quá khó để giải thích tại sao những vấn đề trong giáo dục nói chung và giáo dục ĐH nói riêng luôn là đề tài nóng bỏng lôi kéo sự chú ý của báo giới, các chuyên gia, các nhà lãnh đạo và các tầng lớp nhân dân. Để xây dựng một xã hội thịnh vượng, mỗi quốc gia đều phải dựa vào sức mạnh tổng hợp của các nguồn lực bên trong và bên ngoài, trong đó phải kể đến sức mạnh nền tảng của nguồn lực bên trong mà đặc biệt quan trọng và có ý nghĩa quyết định là nguồn nhân lực. Trong xu thế toàn cầu hóa, sự phát triển của nền kinh tế trí thức với công nghệ hiện đại đòi hỏi nguồn nhân lực phải có khả năng chiếm lĩnh khoa học và công nghệ cao mới có thể đảm bảo cho sự phát triển bền vững.
Đào tạo nguồn nhân lực là nhiệm vụ chiến lược có tầm quan trọng hàng đầu ở mỗi quốc gia. Nguồn nhân lực dồi dào nhưng phải có trình độ, năng lực, phẩm chất tốt mới có thể làm chủ mọi lĩnh vực, thực hiện tốt các mục tiêu của quốc gia và đóng góp cho cộng đồng Quốc tế. Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập, việc đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội đã trở thành nhiệm vụ trong tâm, giáo dục đào tạo được xác định là quốc sách hàng đầu. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam, tập trung chú ý nhiệm vụ nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đặc biệt là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao và coi đó là một đột phá chiến lược.
“Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người; coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển” c 2 (Trích tại phần Quan điểm phát triển của Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020) Trước những nhu cầu của xã hội, người học và cả người sử dụng lao động đã dần đưa giáo dục trở thành một loại dịch vụ hoàn chỉnh và khách hàng có thể bỏ tiền ra để đầu tư và sử dụng một dịch vụ mà họ cho là tốt nhất. Khi giáo dục đại học là một loại hình dịch vụ đồng nghĩa các cơ sở giáo dục đại học là đơn vị cung cấp. Đối tượng khách hàng chủ yếu của các cơ sở giáo dục đại học chính là người học, cụ thể là sinh viên. Vì vậy, sinh viên đóng nhiều vai trò quan trọng trong dịch vụ đào tạo đại học, đây là khách hàng tiềm năng và quan trọng vì tham gia trực tiếp vào toàn bộ quá trình dịch vụ và cũng là sản phẩm của giáo dục đào tạo.
Trong những năm gần đây, hệ thống giáo dục ĐH, CĐ nước ta không ngừng phát triển cả quy mô và chất lượng. Số lượng các trường ĐH, CĐ ra đời ngày càng nhiều với nhiều loại hình phong phú: quốc gia, cộng đồng, công lập, ngoài công lập với hình thức đào tạo đa ngành, đa nghề và đa bậc học. Năm 2007, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định quy hoạch mạng lưới các trường ĐH, CĐ đến năm 2020 nước ta sẽ có 573 trường. Đến tháng 6/2013, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định điều chỉnh quy hoạch mạng lưới các trường ĐH, CĐ.
Theo đó, đến năm 2020 nước ta sẽ có 460 trường ĐH, CĐ, giảm 100 trường so với quy hoạch năm 2007. Thế nhưng, tính đến tháng 7/2014, cả nước đã có tới 472 trường ĐH, CĐ. Từ năm 2007 - 2013, đã có 133 trường ĐH, CĐ được thành lập. Trong đó, có tới 108 trường được nâng cấp từ trung cấp lên CĐ hoặc từ CĐ lên ĐH.
(trích từ giaoduc. Theo Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga cho biết “tính đến thời điểm hiện nay, cả nước có 90 trường ĐH, CĐ NCL (gồm 61 trường ĐH, 29 trường CĐ), chiếm khoảng 22,2% tổng số các trường” (trích từ baomoi. Với sự ra đời ồ ạt trên, nhiều trường ĐH, CĐ công lập nói chung đặc biệt hệ thống các trường ĐH, CĐ NCL nói riêng đã nhìn nhận được vai trò quan trọng của chất lượng dịch vụ đào tạo bằng cách tập trung đầu tư cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, đổi mới chương trình đào tạo, nâng cao nâng lực quản lý,…Tuy nhiên, yếu tố chất c 3 lượng này vẫn đang là thách thức lớn đối với toàn thể hệ thống giáo dục của Việt Nam vì tình hình chung của xã hội như điều kiện kinh tế khó khăn, ngân sáng hàng năm đầu tư cho hệ thống giáo dục còn thấp, chạy đua với quá trình hội nhập,…đã đòi hỏi toàn thể hệ thống giáo dục ĐH, CĐ phải nỗ lực và quyết tâm. Bên cạnh nhiều lý do khách quan chung của hệ thống giáo dục đòi hỏi dịch vụ chất lượng đào tạo nói chung là hướng đến khách hàng mục tiêu (sinh viên) thì đối với hệ thống đào tạo ĐH, CĐ NCL nói riêng yếu tố này càng gặp nhiều khó khăn hơn và cần được chú trọng và nâng tầm nhiều hơn.
Bởi vì nó chính là yếu tố hàng đầu quyết định sự tồn tại và phát triển của đơn vị đào tạo loại hình này với nhiều lý do mang tính chất cạnh tranh cao: - Chính sách ngưỡng điểm đầu vào của các trường ĐH, CĐ CL và NCL chưa có sự phân biệt rõ ràng. Các trường ĐH, CĐ CL trọng điểm vẫn có quyền lấy tới ngưỡng điểm tối thiểu và như vậy đồng nghĩa với việc chiếm hết thị phần của các trường NCL, đặc biệt là các trường mới được thành lập. Ngoài ra sự xuất hiện các trường quốc tế đã khống chế thị trường con nhà giàu, các trường công khống chế thị trường các học sinh khá giỏi. Vậy, các trường NCL chỉ còn thị trường học sinh trung bình yếu, gia đình trung lưu và nghèo có thu nhập thấp => chất lượng đầu vào của các trường ĐH, CĐ NCL luôn là vấn đề cần báo động.
- Sự chưa công bằng về học phí ở giáo dục đại học giữa sinh viên trường CL và sinh viên trường NCL. Sinh viên NCL phải trả chi phí đào tạo 100%. Còn sinh viên CL chỉ phải trả khoảng 30-40% chi phí đào tạo, phần còn lại do Nhà nước bao cấp. - Thái độ và quan điểm của người học về bằng cấp từ các trường ĐH, CĐ NCL luôn được đề cao.
- Tỷ lệ thất nghiệp của sinh viên tốt nghiệp ĐH, CĐ ngày càng cao vì chất lượng đầu ra không đảm bảo nhu cầu của xã hội. - Khó khăn về nguồn vốn đầu tư nội lực như cơ sở vật chất, đội ngũ nguồn nhân lực giảng viên và cán bộ - nhân viên (GV-CB-NV), chương trình đào tạo, c 4 phương pháp giảng dạy và đảm bảo được tính chất hội nhập của toàn hệ thống giáo dục… Các yếu tố nêu trên đang là vấn đề cấp bách cần được chú trọng quan tâm hàng đầu, cần có những giải pháp thiết thực và phù hợp trong bối cảnh thực tiễn của toàn xã hội. Cao đẳng Viễn Đông thành lập theo Quyết định số 321/QĐ-BGDĐT ngày 17/01/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo với sứ mạng chuyên đào tạo đội ngũ cán bộ, chuyên viên kỹ thuật và Quản trị thành thạo chuyên môn nghiệp vụ, giỏi thực hành, thông thạo ngoại ngữ nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước với các bậc đào tạo đa cấp, đa ngành chuẩn quốc tế để phát triển bền vững cùng tiến trình hội nhập toàn cầu. Với sự quyết tâm phấn đấu đến năm 2025, trường Cao đẳng Viễn Đông sẽ đầu tư nâng cấp trường trở thành trường tiên tiến khu vực Đông Nam Á có liên kết và được công nhận lẫn nhau giữa Cao đẳng Viễn Đông và các trường trong khu vực, vì vậy qua 9 năm hình thành và phát triển, trường Cao đẳng Viễn Đông đã không ngừng tập trung toàn bộ nguồn lực để thực hiện việc nâng cao chất lượng dịch vụ đào tạo, là một trong những nhân tố quyết định sự thành công trong sứ mạng và tầm nhìn mà trường đã đưa ra: - Tập trung đầu tư cơ sở vật chất: từ khi mới thành lập trường chỉ có 3 cơ sở đi thuê ngoài để tổ chức lớp học cho đến hiện nay trường đã có 1 cơ sở khang trang, hiện đại tại Lô 2, Công viên phần mềm Quang Trung, 12 tầng lầu với diện tích mặt sàn xây dựng 21.299m2, trước đây sinh viên phải đi thực tập từ các cơ sở bên ngoài trường thì hiện tại nay mỗi khoa đào tạo đều có xưởng/phòng thực hành, thực tập, có phòng mô phỏng với trang thiết bị hiện đại đầy đủ để sinh viên thực tập tại trường.
- Quy mô đào tạo: được mở rộng từ khi mới thành lập chỉ có 6 ngành học với 2 hệ đào tạo, hiện nay mở rộng thành 13 ngành học với 4 hệ đào tạo và 1 chương trình liên kết quốc tế (Du học Mỹ). c 5 - Đội ngũ CB-GV-NV: từ 81 người phát triển thành 309 người (không kể giảng viên thỉnh giảng). - Phát triển chương trình liên kết quốc tế. - Chương trình đào tạo: lúc đầu các môn học thiên về lý thuyết hàn lâm, hiện nay chương trình đã được điều chỉnh và cập nhật thường xuyên theo hướng thực hành đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của doanh nghiệp và xã hội.
Tuy nhiên, để đánh giá chất lượng dịch vụ đào tạo của một cơ sở giáo dục thì cơ sở đó phải làm hài lòng khách hàng của mình về mọi mặt, nhưng hiện nay bên cạnh những thành quả mà trường đã đạt được trong quá trình đầu tư và phát triển thì Cao đẳng Viễn Đông vẫn còn những điểm yếu kém và bất cập làm cho người học chưa được hài lòng như: đội ngũ cán bộ, nhân viên phục vụ, các dịch vụ hỗ trợ, phương pháp giảng dạy của đội ngũ giảng viên,…và thể hiện rõ nét ở tỷ lệ tuyển sinh đầu vào của 3 năm gần đây chỉ đạt từ 45% đến 60% so với chỉ tiêu của trường, cũng như tỷ lệ sinh viên bỏ học sau khi tham gia học tập ở học kỳ đầu tiên tại trường Cao đẳng Viễn Đông chiếm tỷ lệ khá cao (từ 20% đến 30%), theo số liệu từ phòng đào tạo thể hiện cụ thể như sau: + Năm học 2013 – 2014: chỉ tiêu 2.500 sinh viên, số lượng tuyển đầu vào là 1.