CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG DẠY NGHỀ ĐIỆN VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY NGHỀ ĐIỆN TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP VIỆT HUNG 1. Một số khái niệm về dạy học: 1. Quá trình dạy học: Quá trình dạy: là quá trình hoạt động của giáo viên nhằm tổ chức và điều khiển quá trình học của học sinh giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, đồng thời giáo dục phẩm chất đạo đức, thái độ nghề nghiệp… theo mục tiêu đã đề ra. Quá trình học: là quá trình hoạt động của học sinh nhằm lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ… để hoàn thiện nhân cách và tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề có năng suất và hiệu quả.
Nó là quá trình biến đổi mình và làm phong phú mình bằng cách chọn, nhập và xử lý thông tin lấy từ môi trường xung quanh. Quan hệ dạy và học: Dạy và học là hai mặt không thể thiếu được của quá trình dạy học. - Hoạt động của người GV nhằm lãnh đạo, tổ chức và điều khiển quá trình nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và nghiên cứu của HS trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật nhất định có liên quan đến tương lai của họ. Người GV với tư cách là nhà sư phạm, nhà khoa học và nhà hoạt động xã hội.
- Học là hoạt động của học sinh, là sự tự giác tích cực huy động mọi chức năng tâm lý từ cảm giác, tri giác, trí nhớ, tưởng tượng, tư duy ngôn ngữ đến tình cảm, ý trí và hành động. Hoạt động học tập của học sinh học nghề phải kết hợp chặt chẽ giữa học tập với lao động sản xuất, thực hành nghề nghiệp của mình. Bản thân phải phải luôn ý thức mình vừa là người học, vừa là người tập dượt nâng cao tay nghề, là người công nhân, người thợ có tay nghề cao, góp phần vào công cuộc không nhỏ vào công cuộc phát triển và xây dựng đất nước. - Dạy học phải thống nhất biện chứng với nhau, vì kết quả của hoạt động học của HS phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động dạy của GV.
Trong quá trình dạy học, 15 người GV đóng vai trò chủ thể tác động đến HS bằng những biện pháp sư phạm thông qua nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học. HS sẽ nhận sự tác động đó và khi đó, HS đóng vai trò là khách thể. Nhưng trong quá trình dạy học, HS không chỉ đóng vai trò là khách thể mà còn đóng vai trò chủ thể, vì họ có ý thức được nhiệm vụ học tập của mình, tự giác tích cực trong học tập, nhận mọi tác động từ phía GV. Vai trò chủ thể của HS ngày càng được phát huy, thì tác động sư phạm ngày càng có hiệu quả cao.
Trong sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt của quá trình dạy học, hoạt động dạy bao giờ cũng đóng vai trò chủ đạo. Người GV phải chỉ rõ phương hướng, nội dung, phương pháp học tập cho HS, làm sao HS tự giác tuân theo hướng dẫn của mình. Trong quá trình dạy học dù trang thiết bị và phương tiệ giảng dạy có đến đâu đi chăng nữa thì GV vẫn đóng vai trò chủ đạo và không được làm lu mờ tính tích cực, tính độc lập, chủ động sáng tạo của HS. GV phải có trách nhiệm khơi gợi, bồi dưỡng và phát huy hứng thú nhận thức, tính tích cực nhận thức, vai trò chủ thể của HS.
Do đó, cần kết hợp chặt chẽ vai trò chủ đạo của GV với tính tích cực, chủ động, độc lập của HS. Phải đảm bảo sự thống nhất biện chứng giữa dạy và học, đó là vấn đề quan trọng trong nghệ thuật dạy học. Chât lượng giáo dục: a. Quan niệm chất lượng: Có rất nhiều cách giải thích về chất lượng nói chung nhưng vẫn chưa có, thậm chí không thể có sự thống nhất về một định nghĩa chính xác cho khái niệm này.
Chất lượng là khái niệm “đa chiều” và bao hàm nhiều yếu tố. Nó được định nghĩa không những là sự phù hợp với mục tiêu mà còn chứa đựng trong đó tính có thể tin cậy được, tính bền vững, tính thẩm mỹ … Theo một số quan điểm thuộc Viện Nghiên cứu Giáo dục: “Chất lượng là một khái niệm có ý nghĩa đối với một người hưởng lợi tùy thuộc vào quan niệm của người đó ở một thời điểm nhất định nào đó và theo các 16 mục đích và mục tiêu đã được đề ra từ trước nào đó”. Nói cách khác, “chất lượng là sự đáp ứng là sự đáp ứng với mục tiêu, và mục tiêu đó phải phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội. Chất lượng giáo dục: Hiện nay trong nhiều tài liệu, quan niệm về chất lượng giáo dục được đề cập dưới góc độ và bình diện khác nhau nhưng đã có sự thống nhất tương đối rộng rãi.
Theo một số tác giả thì chất lượng giáo dục là mức độ đáp ứng các mục tiêu hệ thống và mục tiêu nhân cách. Với tư cách là một hệ thống con trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục cũng có hai loại mục tiêu đó. Tuy nhiên, trong khi thực hiện mục tiêu giáo dục nghề nghiệp đặt trọng tâm mục tiêu hệ thống của mình vào mục tiêu “đào tạo nhân lực”, đó là đào tạo lực lượng lao động có chuyên môn nghiệp vụ ở trình độ trung cấp theo cơ cấu ngành nghề hợp lý và thái độ nghề nghiệp phù hợp để tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, quản lý… nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động. Bên cạnh sự phản ánh mục tiêu nhân cách của Giáo dục Việt Nam nói chung, mục tiêu nhân cách của giáo dục Việt Nam nói chung, mục tiêu nhân cách của giáo dục nghề nghiệp được thể hiện ở hệ thống các năng lực thực hiện bao hàm các kiến thức, kỹ năng và thái độ mà người tốt nghiệp đạt được theo các tiêu chuẩn đào tạo ở trình độ tương ứng trong từng ngành nghề hoặc từng lĩnh vực ngành nghề ( Công nghiệp – Xây dựng; Nông – Lâm – Ngư nghiệp…), đáp ứng yêu cầu của người sử dụng lao động thông qua các tiêu chuẩn nghề.
Tiêu chuẩn nghề là đòi hỏi khách quan của thực tế nghề nghiệp và việc làm đối với người lao động tại vị trí làm việc, còn tiêu chuẩn đào tạo mang lại tính ”dung hòa”, “chủ quan hơn” do đào tạo khôn chỉ thỏa mãn các nhu cầu hết sức đa dạng, phong phú, phức tạp của các loại “khách hàng trực tiếp: sử dụng lao động khác mà còn phải thỏa mãn nhu cầu của xã hội, chế độ chính trị, cũng như nhu cầu đa dạng của bản thân người học và gia đình…”. Hơn nữa, có nhiều loại tiêu chuẩn tùy phạm vi áp 17 dụng rộng hẹp, cao thấp khác nhau của chúng: Tiêu chuẩn quốc tế, khu vực, quốc gia, tiêu chuẩn ngành, địa phương, doanh nghiệp… Hiện nay, các nhà giáo dục và quản lý giáo dục cũng thống nhất với quan niệm” chất lượng tương đối”. Theo quan niệm đó thì chất lượng giáo dục nghề nghiệp có hai mặt: - Chất lượng giáo dục là sự đạt được mục tiêu đào tạo ( phù hợp với tiêu chuẩn đào tạo) do người cung ứng dịch vụ đào tạo, đó là cơ sở giáo dục nghề nghiệp đề ra. - Chất lượng ngoài của giáo dục nghề nghiệp là sự thỏa mãn hnhững nhu cầu của người sử dụng sản phẩm của giáo dục nghề nghiệp, nói rộng ra là nhu cầu của xã hội.
Sản phẩm đó là những người tốt nghiệp các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có trình độ trung cấp trong các ngành nghề khác nhau đang tham gia thị trường lao động và việc làm. Ở khía cạnh lao động xã hội này, người ta nói tới hiệu quả ngoài của giáo dục nghề nghiệp. Ở khía cạnh kinh tế, người ta nói tới hiệu quả chi phí của đào tạo 1. Khái niệm dạy nghề: Khái niệm “dạy nghề” đã được sử dụng gần năm mươi năm và cũng đã trở thành quen thuộc đối với những người tham gia trong hoạt động dạy nghề.
Trải qua quá trình phát triển ấy, khái niệm dạy nghề đã có nhiều biến đổi. Trước đây, dạy nghề được hiểu đơn thuần là truyền thụ nghề từ người này sang người khác, còn gọi là truyền nghề. Hiện nay, vẫn còn một số các nghề thủ công truyền thống được truyền dạy theo phương pháp này. Theo quan điểm giáo dục dạy nghề hiện đại, trong dự thảo Luật cũng đã bổ sung mục giải thích thuật ngữ “dạy nghề” như sau: “Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học”(Trích “báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật dạy nghề”- Phó chủ tịch Nguyễn Phúc Thanh - Ủy ban thường vụ Quốc Hội).
Với quan điểm 18 này, người thầy chỉ trang bị cho người học những kiến thưc cơ bản, đồng thời giữ vai trò định hướng phát triển nghề nghiệp cho họ trong tương lai. Quá trình dạy nghề được thực hiện tại các cơ sở đào tạo như trường, lớp, các nhà máy, các trung tâm dạy nghề theo một kế hoạch, mục tiêu, thời gian xác định nhằm đạt trình độ, kỹ năng nhất định. Chất lượng dạy nghề: Khái niệm chất lượng dạy nghề là để chỉ chất lượng các công nhân kỹ thuật được đào tạo trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp, theo mục tiêu và chương trình dạy xác định trong các lĩnh vực ngành nghề khác nhau, đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động. “Chất lượng dạy nghề” cũng phải được xem xét ở hai mặt: mặt chủ quan về hiệu quả sử dụng của cơ sở sản xuất dịch vụ thông qua thị trường lao động.
Tóm lại, chất lượng dạy nghề là một khái niệm bao gồm hệ thống chuẩn các điều kiện, yếu tố tác động đến quá trình dạy học nhằm nâng đạt được mục tiêu đề ra và đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động. Quá trình dạy học ở trường dạy nghề: 1. Đặc điểm trường dạy nghề: Hiện nay, các trường dạy nghề nước ta phần lớn do nhà nước quản lý, tuy nhiên vẫn có những trường dạy nghề dân lập. Ở đây, chỉ đề cập tới các trường dạy nghề công lập.
Đặc điểm chung của các trường hiện nay là: - Có nhiều ngành nghề khác nhau. - Cở sở vật chất còn nghèo nàn, lạc hậu. - Trình độ thực chất về sư phạm cũng như chuyên môn của đội ngũ GV không cao. - Đối tượng đào tạo hầu hết là HS tốt nghiệp THCS, THPT.
- Có nhiều đối tượng đào tạo, bậc thợ, và thời gian đào tạo khác nhau. Bản chất quá trình dạy học ở trường dạy nghề: a.