Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC THỰC HÀNH Ở TRUNG TÂM NGHỀ BÌNH XUYÊN 1. TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU 1. Đặc trưng đào tạo nghề ở một số nước Tuỳ thuộc vào điều ki ện, trình độ phát triển kinh tế xã hội, khoa học công nghệ và văn minh của mỗi quốc gia mà việc hình thành các hệ thống giáo dục- đào tạo, hệ thống dịch vụ việc làm và hệ thống sử dụng quản lí lao động xã hội ở mỗi nước khác nhau. Hoa Kỳ - Đào tạo công nhân được tiến hành trong các trường THPT phân ban, các trường dạy nghề trung học, các cơ sở đào tạo sau trung học.
- Tốt nghiệp được cấp bằng chứng nhận và chứng chỉ công nhân lành nghề và có quyền được đi học tiếp theo. - Thời gian đào tạo từ 2 - 7 năm tuỳ từng nghề. Đài Loan - Học sinh tốt nghiệp trung cấp cơ sở học tại trường trung cấp nghề ra trường được công nhận là công nhân lành nghề. - Học sinh tốt nghiệp trung cấp nghề và công nhân lành nghề được học tiếp theo ở bậc cao đẳng, tốt nghiệp được cấp bằng kĩ thuật viên, công nhân kĩ thuật bậc cao và có quyền học tiếp lên đại học.
Cộng hoà liên bang Đức - Có hệ thống đào tạo nghề và TCCN, về mặt trình độ một bộ phận được xếp vào bậc trung học tương đương với THPT từ lớp 9 đến lớp 13, một bộ phận cao hơn vào bậc sau trung học. Liên Xô (trước đây) - Công tác đào tạo nghề ở Liên Xô đã có truyền thống từ lâu đời là đào tạo tại xí nghiệp. Tháng 7 năm 1920 Lê Nin đã ký sắc lệnh “Về chế độ học tập 16 kỹ thuật - nghề nghiệp”, sắc lệnh này bắt buộc đối với mọi người từ 18 đến 40 tuổi. Việc đào tạo rất đa dạng đó là dạy nghề cạnh xí nghiệp và trường dạy nghề.
Các trường dạy nghề và trường cạnh xí nghiệp với thời gian học tập khác nhau: 2 năm đào tạo công nhân bậc 3 và 4; 2 năm rưỡi và 3 năm đào tạo công nhân bậc 5 và 6; 3 năm và 4 năm đào tạo công nhân lành nghề bậc cao. - Giai đoạn1: Đào tạo lí thuyết và thực hành cơ bản tại cơ sở đào tạo của xí nghiệp. - Giai đoạn 2: Đào tạo thực hành tại vị trí làm việc dưới sự hướng dẫn của thợ cả hoặc hướng dẫn viên thực hành. Trên thế giới, hầu hết các nước đều bố trí hệ thống giáo dục kĩ thuật và dạy nghề bên cạnh hệ phổ thông và đại học.
Trung Quốc có hệ thống GDCN gồm 3 trình độ dạy nghề sơ trung, dạy nghề cao trung và trung cấp chuyên nghiệp. Dạy nghề sơ trung tương đương với sơ trung phổ thông hay THCS ở nước ta, dạy nghề cao trung tương đương với cao trung phổ thông hay THPT ở nước ta. TCCN chia làm 2 trình độ: Cao trung và sau cao trung 2 năm 1. Tình hình đào tạo nghề ở Việt Nam Hệ thống giáo dục nghề nghiệp Việt Nam được hình thành trên 50 năm.
Điều 32 Luật giáo dục năm 2005 quy định giáo dục nghề nghiệp bao gồm: Trung cấp chuyên nghiệp được thực hiện từ 3 đến 4 năm đối với người tốt nghiệp trung học cơ sở, từ 1 đến 2 năm đối với người tốt nghiệp phổ thông trung học và dạy nghề dưới 1 năm đối với sơ cấp và từ 1 đến 3 năm đối với trung cấp nghề và cao đẳng nghề. Qua phân tích đặc trưng của một số nước về hệ thống giáo dục nghề nghiệp ta thấy hệ thống giáo dục nghề nghiệp được hình thành do yêu cầu của thị trường lao động và do nhu cầu hoạt động nghề nghiệp, nhu cầu việc làm của người lao động trong xã hội. Hệ thống giáo dục nghề nghiệp là cung cấp cho xã hội, cho thị trường lao động những kĩ thuật viên trung cấp và công nhân kĩ thuật trung cấp và công nhân kĩ thuật, nhân viên nghiệp vụ có trình độ cao, năng lực hành nghề thể hiện ở các kiến thức, kĩ năng, thái độ và kinh 17 nghiệm làm việc được đào tạo trong các cơ sở đào tạo. Hình thức đào tạo nghề nghiệp phong phú và đa dạng: Đào tạo dài hạn và đào tạo ngắn hạn; đào tạo chính quy và đào tạo không chính quy; đào tạo tại các trường hay các trung tâm dạy nghề.
Đặc trưng nổi bật của hệ thống nghề nghiệp là đào tạo ng ười lao động có kĩ năng, kĩ xảo hành nghề trên c ơ sở nắm vững lý thuyết. Do đó vấn đề dạy thực hành, luyện tập kĩ năng là những hoạt động cốt lõi trong quá trình đào tạo. Sức mạnh của hệ th ống giáo dục nghề nghiệp và chất lượng đào tạo cao là sự đảm bảo hoạt động có hiệu quả của thị trường lao động. Đó cũng là cơ sở để thị trường lao động có thể thực hiện được các quy luật cung cầu, quy luật giá trị và quy luật cạnh tranh.
MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Quản lý và quản lý giáo dục Có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm quản lí. Theo Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt, “Quản lí là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lí có hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lí mong muốn [21].
Hà Sỹ Hồ cho rằng: “Quản lí là một quá trình tác động có định hướng (có chủ đích) có tổ chức, lựa chọn trong các tác động có thể có dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định” [16]. Theo Nguyễn Văn Lê: “Quản lí là một công việc vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật”. Ông viết “Quản lí một hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống đó mà chủ yếu là vào những con người nhằm đạt hiệu quả tối ưu theo mục tiêu đề ra” [20] Khái niệm quản lí phản ánh một dạng lao động trí tuệ của con người có chức năng bảo đảm và khuyến khích những nỗ lực của những người khác để thực hiện thành công việc nhất định. Quản lí là công tác phối hợp có hiệu quả hoạt động của những người cộng sự khác cùng chung một tổ chức.
quan niệm hiện đại về quản lí 18 thừa nhận đó là toàn bộ các hoạt động huy động, tổ chức, thực thi các nguồn lực vật chất và tinh thần, sử dụng chúng nhằm tác động và gây ảnh hưởng tích cực đến những người khác để đạt được những mục tiêu của tổ chức hay cộng đồng [28]. Chủ thể quản lý Môi trường Mục tiêu Đối tượng bị quản lý Hình 1. Sơ đồ logic của khái niệm quản lí Từ những điểm chung của các quan niệm trên có thể hiểu: “Quản lí là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường”. Với khái niệm trên quản lí phải bao gồm các yếu tố (các điều kiện) sau: - Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể.
Mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động. - Chủ thể phải thực hành việc tác động. - Quản lí bao giờ cũng có chủ thể quản lí và đối tượng bị quản lý. 19 - Quản lí bao giờ cũng liên quan đến việc trao đổi thông tin và đều có mối liên hệ ngược.
- Quản lí bao giờ cũng có khả năng thích nghi. Hoạt động và các quan hệ quản lí chính là đối tượng của khoa học quản lí. Quản lí ra đời chính là để tạo ra một hiệu quả hoạt động cao hơn hẳn so với việc làm của từng cá nhân riêng rẽ của một nhóm người khi họ tiến hành các công việc có mục tiêu chung gần gũi với nhau. Nói một cách khác, thực chất của quản lí là quản lí con người trong tổ chức, thông qua đó sử dụng có hiệu quả nhất mọi tiềm năng và cơ hội của tổ chức.
Ngày nay công tác qu ản lí được coi là một trong năm nhân tố phát triển kinh tế xã hội là vốn - nguồn lực lao động - khoa học kỹ thuật công nghệ - tài nguyên và quản lí. Trong đó quản lý có vai trò quyết định sự thành bại của công việc. Về khái niệm quản lí giáo dục cũng có nhiều cách hiểu. Do giáo dục là một lĩnh vực hoạt động xã hội nên qu ản lí giáo dục được xem là quản lí xã hội.
Quản lí giáo dục luôn bám sát việc thực hiện nhiệm vụ chính trị - xã hội, phát triển kinh tế trong từng thời kỳ, giai đoạn lịch sử của mỗi quốc gia. Phạm Minh Hạc quan niệm rằng: “Quản lí giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí nhằm làm cho hệ giáo dục vận hành theo đường lối và nguyên lí giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất ” [15]. Có thể hiểu khái niệm quản lí giáo dục là quản lí những tác động có hệ thống, khoa học, có ý thức và có mục đích của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lý là quá trình dạy học và giáo dục diễn ra ở các cơ sở giáo dục như các trường học, trung tâm khoa học kĩ thuật, hướng nghiệp dạy nghề hay một tập hợp các cơ sở phân bố trên địa bàn dân cư. Đa số các nguồn và tác giả tuy diễn đạt khác nhau song căn bản đều hiểu khái niệm quản lí giáo dục tương tự như trên (Nguyễn Ngọc Quang, 1989, Đặng Quốc Bảo, 1997, Trần Kiểm, 2002, Bùi Văn Quân, 2007, v.v…) Quản lí giáo dục có thể hiểu theo nghĩa hẹp là quản lí các hoạt động 20 giáo dục trong ngành giáo dục, quản lí một số cơ sở giáo dục đào tạo ở một địa phương hành chính nào đó.
Quản lí giáo dục có thể hiểu theo nghĩa rộng là quản lí các hoạt động giáo dục diễn ra trong nhà trường hay ngoài xã hội.