CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO; VAI TRÒ, ĐẶC ĐIỂM CỦA GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA CỦA ĐẤT NƯỚC 1.1 HỆ THỐNG GIÁO DỤC VIỆT NAM “- Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên. - Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm : a) Giáo dục mầm non bao gồm có nhà trẻ và mẫu giáo. b) Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông c) Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề d) Giáo dục đại học và sau đại học: đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ.” [15, điều 4] Sự đổi mới cơ bản của Luật Giáo dục 2005 so với Luật Giáo dục 1998 là coi giáo dục thường xuyên không chỉ là một phương thức học tập mà còn là một bộ phận quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân nhằm xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện cho việc học tập suốt đời của nhân dân. Hiện nay số sinh viên trên số dân là 1,6%.
Tỷ lệ này so với Thái Lan ở mức 2%. Và theo đề án phát triển giáo dục thì tới 2010 sẽ tăng tỷ lệ này lên 2% và tới 2020 là 4,5%. Tỷ lệ trung bình ở các nước phát triển cao OECD dựa vào nguồn số liệu về giáo dục của OECD (Education at a Glance 2005) là 4,3% trong đó có nước cao như Hàn Quốc là 6,7%, Mỹ 5,7%, nước thấp như Đức 2,6%, Mexico 2,1%. Ngân sách dành cho giáo dục năm 2006 khoảng 55300 tỷ đồng.
Từ năm 2000-2006 chi cho giáo dục-đào tạo đã tăng từ 15% lên 18% trong tổng chi ngân sách Nhà nước (bằng 5,6% GDP, cao hơn tỉ lệ bình quân 3,8% của các nước và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -5- vùng lãnh thổ ở Châu Á), trong kế hoạch 5 năm 2006-2010, tỉ lệ chi ngân sách cho giáo dục-đào tạo được nâng lên 20% từ năm học 2007-2008.1: Chi ngân sách nhà nước cho giáo dục 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Tổng chi cho giáo 15609 20624 22795 32730 41630 55300 dục (tỷ đồng) Tỷ lệ ngân sách 3.6 cho GD /GDP (%) (Nguồn: Bộ Giáo dục - Đào tạo) Hệ thống giáo dục Việt Nam đang đổi mới theo hướng hội nhập khu vực và quốc tế với chiến lược lâu dài là mở rộng quy mô giáo dục trên cơ sở đảm bảo chất lượng. Mục tiêu lâu dài là xây dựng một xã hội học tập, trong đó ai cũng được học tập, đào tạo để thông thạo ít nhất một nghề. Tuy nhiên đây là một mục tiêu mà để thực hiện được còn rất nhiều khó khăn. Một trong những lý do là nguồn lực của chúng ta quá hạn hẹp, chưa đủ để mở rộng mạng lưới các cơ sở giáo dục và đào tạo.
Tổ chức và hoạt động giáo dục đã có sự thay đổi căn bản, hướng tới sự đa dạng hoá, chuẩn hoá, hiện đại hoá và xã hội hoá. Việt Nam cũng đã có những bước đi chủ động trong hội nhập giáo dục, tiếp nhận giáo dục nước ngoài. Nhiều năm qua, với chủ trương xã hội hóa giáo dục, nhiều trường Đại học ra đời, nhưng chưa quan tâm đúng mức đến trường dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp. hệ thống đào tạo nghề nghiệp vẫn bị coi là nặng về lý thuyết.
Gần đây Luật giáo dục sửa đổi 2005 và Luật dạy nghề 2006 ra đời đã đánh dấu một bước phát triển mới cho giáo dục nghề nghiệp nhưng vẫn còn nhiều vướng mắc, chưa hoàn thiện. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Cao đẳng nghề (2 - 3 năm) Dạy Trung cấp nghề (1–2 năm) nghề Sơ cấp nghề (dưới 1 năm) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO 1.1 KHÁI NIỆM: Chất lượng tốt góp phần vào việc xây dựng nên thương hiệu, hình ành, danh tiếng của một đơn vị. Để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cần phải có một lực lượng lao động có chất lượng cao. Muốn vậy thì phải nâng cao chất lượng đào tạo của các trường.
Do đó, việc nâng cao chất lượng đào tạo luôn là nhiệm vụ quan trọng nhất của bất kỳ cơ sở đào tạo nào. Trong lĩnh vực giáo dục, chất lượng đào tạo là một khái niệm khó định nghĩa, khó xác định, khó đo lường, khó nắm bắt và cách hiểu của mỗi người, mỗi cấp, mỗi góc độ cũng khác nhau. Theo Từ điển tiếng Việt: “Chất lượng là cái làm nên phẩm chất giá trị của một vật” Theo tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa (ISO): "Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay qúa trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”. Các cách tiếp cận về chất lượng đào tạo: - Chất lượng là sự phù hợp với các tiêu chuẩn: Tiếp cận theo cách này, chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ được đo bằng sự phù hợp của nó với các thông số hay tiêu chuẩn được quy định trước đó.
Trong giáo dục đào tạo, hiện nay chưa có một chuẩn chung, nhất là về các kỹ năng nghề, vì vậy các trường tự đề ra các tiêu chuẩn nhất định về các lĩnh vực trong quá trình đào tạo của trường mình và phấn đấu theo các chuẩn đó. Theo cách này, để nâng cao chất lượng đào tạo thì các tiêu chuẩn dần được nâng cao lên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -8- - Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu, mục đích: Ngoài sự phù hợp với các thông số hay tiêu chuẩn được quy định trước, chất lượng còn phải phù hợp với mục đích của sản phẩm hay dịch vụ đó. Chất lượng được đánh giá bởi mức độ mà sản phẩm hay dịch vụ đáp ứng được mục đích đã tuyên bố. Với cách hiểu này, chất lượng phát triển theo thời gian, tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, tùy thuộc vào đặc thù của từng loại trường và có thể sử dụng để phân tích chất lượng đào tạo ở các cấp độ khác nhau.
Luật dạy nghề quy định: “Mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo. [16, điều 4] Tiếp cận theo cách này, chất lượng sẽ được xem là mức độ đáp ứng của học sinh tốt nghiệp đối với thị trường lao động. - Chất lượng là hiệu quả của việc đạt mục đích của nhà trường: Theo cách hiểu này, một trường có chất lượng cao là trường tuyên bố rõ mục đích của mình và đạt được mục đích đó một cách hiệu quả và hiệu suất cao nhất, đây chính là chất lượng tương đối – bên trong. Thông qua kiểm tra, thanh tra chất lượng, các tổ chức hữu quan sẽ xem xét, đánh giá hệ thống đảm bảo chất lượng của trường đó có giúp nhà trường hoàn thành sứ mạng một cách hiệu quả và hiệu suất cao hay không.
Trong chất lượng đào tạo có hiệu quả đào tạo - đào tạo có chất lượng trước hết phải là đào tạo có hiệu quả. - Chất lượng đào tạo dưới góc độ quản lý: Dưới góc độ quản lý và cũng là cách xưa nay khi đánh giá chất lượng đào tạo của một cơ sở đào tạo, trước tiên là nhìn vào tỉ lệ đậu/rớt, tỉ lệ học viên tốt nghiệp, tỉ lệ học viên bỏ học, tỉ lệ học viên khá, giỏi. Như cách tính hiện nay của ngành Giáo dục, hiệu suất đào tạo được tính bằng tỷ lệ phần trăm số học sinh tốt nghiệp/ số học sinh nhập học. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -9- - Chất lượng đào tạo dưới góc độ người sử dụng Dưới góc độ người sử dụng, mà phần lớn là các doanh nghiệp, chất lượng đào tạo sẽ được đánh giá qua kiến thức, kỹ năng, tay nghề, khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao, khả năng thích ứng với môi trường, đạo đức, tác phong làm việc của người được sử dụng - Chất lượng đào tạo dưới góc độ giảng dạy Dưới góc độ giảng dạy chất lượng đào tạo được xem xét trên cơ sở truyền đạt, chuyển giao kiến thức tốt, môi trường giảng dạy, học tập tốt và quan hệ tốt giữa giảng dạy và nghiên cứu.
- Chất lượng đào tạo dưới góc độ người học Đối với người học, ngoài kiến thức, kỹ năng, tay nghề, chất lượng đào tạo còn được xem xét, cân nhắc về giá trị của bằng cấp, khả năng tìm việc làm sau khi tốt nghiệp, sự phát triển cá nhân và việc chuẩn bị cho một vị trí xã hội trong tương lai. Về nguyên tắc, có thể đo giá trị trung bình của tri thức qua giáo dục bằng thu nhập ròng mà nó đem lại cho người học tạo ra trong suốt cuộc đời của họ sau khi trừ đi chi phí cần thiết. Tuy nhiên để tính được một cách tương đối chính xác cũng là rất khó khăn vì phải: - Tiên đoán được chính xác thu nhập ròng này chỉ từ yếu tố giáo dục tạo ra - Biết được suất lợi nhuận trung bình của nền kinh tế theo nghĩa chi phí cơ hội để đưa thu nhập trên về giá trị hiện tại. Cách tính này là dựa vào giả thiết hơn là nắm bắt được giá trị thật trên thị trường.
Từ những cách tiếp cận trên, có thể rút ra rằng: Chất lượng đào tạo là sự phù hợp với mục tiêu đề ra qua sự đánh giá của người học, người dạy, người quản lý và người sử dụng sản phẩm đào tạo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 10 - Chất lượng đào tạo phụ thuộc vào nhiều yếu tố: chất lượng đầu vào chính sách và trình độ quản lý chương trình đào tạo phương pháp giảng dạy chất lượng đội ngũ giảng dạy và quản lý nguồn tài lực, cơ sở vật chất, sách và trang thiết bị dạy học Đây cũng chính là các điều kiện để đảm bảo chất lượng đào tạo. Vì vậy muốn nâng cao chất lượng đào tạo thì phải tác động để nâng cao chất lượng, hiệu quả của các yếu tố trên.2 QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO 1.1 Khái niệm: Quản lý chất lượng là quá trình có tổ chức nhằm đảm bảo các sản phẩm trước khi đưa vào sử dụng phải đạt được các tiêu chuẩn đề ra và phù hợp với các yêu cầu của người sử dụng. Quản lý chất lượng bao gồm các hoạt động có phối hợp nhằm định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng Việc quản lý chất lượng bao hàm trong nó sự cam kết không ngừng nâng cao chất lượng.