Chương 1. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 2. Thực trạng ảnh hưởng của chất lượng cuộc sống công việc đến sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Luận văn thạc sĩ Kinh tế khu vực TP HCM Chương 3. Giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống công việc nhằm gia tắng sự thỏa mãn của nhân viên trong công việc tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam khu vực TP HCM 5 Chƣơng 1.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm về chất lƣợng cuộc sống công việc. Vào năm 1970, chất lượng cuộc sống công việc (QWL) tập trung vào việc thiết kế và cải thiện công việc. Chất lượng cuộc sống công việc được xác định là cách thức phản ứng của con người đối với công việc, đặc biệt là các kết quả cá nhân có liên quan đến sự hài lòng công việc và sức khỏe tinh thần.
QWL tập trung cơ bản vào hiệu quả cá nhân của kinh nghiệm làm việc và cách thức cải thiện công việc để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Những phương thức về kỹ thuật và quá trình cải thiện chất lượng cuộc sống công việc như làm phong phú công việc, đội tự quản, ban quản lý lao động. Khái niệm QWL được mở rộng ra bên ngoài những phát triển ban đầu của nó, bao gồm xác định những đặc tính của nơi làm việc có ảnh hưởng năng suất lao động và sự hài lòng, chẳng hạn như hệ thống khen thưởng, dòng công việc, Luận văn thạc sĩ Kinh tế phong cách quản lý và môi trường làm việc vật lý (Beh và Rose 2007) 1. Các nghiên cứu về thành phần của chất lƣợng cuộc sống công việc.
Cũng như khái niệm chất lượng cuộc sống công việc, các thành phần của chất lượng cuộc sống công việc cũng được xem xét dưới nhiều cách thức khác nhau. Đồng thời, những nghiên cứu khác nhau cũng đã khám phá ra những thành phần khác nhau của chất lượng cuộc sống công việc nhằm mục đích cải thiện công việc để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Nghiên cứu của Walton. Walton (1974) cho rằng chất lượng cuộc sống công việc là cụm từ có ý nghĩa rộng lớn, và ông đã đề xuất 8 thành phần của chất lượng cuộc sống công việc thông qua khảo sát về lĩnh vực công nghiệp dịch vụ tại Mỹ: 6 - Lương, thưởng công bằng và thỏa đáng: mức lương và thưởng mà người lao động được nhận tương xứng với năng lực làm việc, đáp ứng đủ chi phí sinh hoạt theo tiêu chuẩn xã hội và công bằng đối với các vị trí khác nhau trong doanh nghiệp.
- Điều kiện làm việc an toàn và đảm bảo sức khỏe: tổ chức quy định giờ làm việc và khối lượng công việc phù hợp với tiêu chuẩn chung và đảm bảo sức khỏe cho nhân viên. - Cơ hội phát triển nghề nghiệp: nhân viên được tạo điều kiện tham gia các chương trình đào tạo để tích lũy kiến thức và có điều kiện thăng tiến lên những vị trí cao hơn trong tổ chức phù hợp với năng lực thực tế của mỗi cá nhân. - Sự hòa nhập: nhân viên được xem như một thành viên trong doanh nghiệp, được đối xử bình đẳng, không có sự phân biệt và giữa các thành viên có sự phối hợp cũng như hỗ trợ lẫn nhau trong công việc. - Sự tuân thủ luật và bảo vệ quyền lợi cá nhân: quyền bình đẳng, tự do của Luận văn thạc sĩ Kinh tế nhân viên được tổ chức tôn trọng và bảo vệ.
- Sự cân bằng công việc và cuộc sống: nhân viên có thể cân đối được thời gian giữa công việc và cuộc sống gia đình. Nhân viên có thể tự chủ thời gian để tham gia các hoạt động xã hội cũng như dành cho gia đình và bạn bè. - Phát triển năng lực mỗi cá nhân: các thành viên trong tổ chức được tạo điều kiện để nâng cao kiến thức, kỹ năng liên quan đến công việc; đồng thời tạo cơ hội phát huy năng lực cá nhân và tự chủ để hoàn thành công việc. - Nhận thức về trách nhiệm xã hội của tổ chức: mỗi thành viên ý thức được trách nhiệm đối với bản thân và tổ chức, các vấn đề xã hội và tham gia vào trong quá trình phát triển của xã hội và cộng đồng.
Nghiên cứu của Walton (1974) Nguồn: Nghiên cứu của Walton (1974) 1. Nghiên cứu của Huse và Cummings. Huse và Cummings (1985) thực hiện nghiên cứu về lĩnh vực công nghiệp dịch vụ cũng đã đề xuất 8 thành phần của chất lượng cuộc sống công việc: - Lương và trợ cấp thỏa đáng, công bằng: lương và các khoản trợ cấp được chi trả theo tiêu chuẩn của xã hội, đáp ứng được nhu cầu sống của người lao động. Luận văn thạc sĩ Kinh tế - Môi trường làm việc an toàn và khỏe mạnh: tổ chức tạo ra môi trường làm việc thoáng mát, an toàn và đảm bảo về mặt sức khỏe cho người lao động.
- Phát triển năng lực cá nhân: người lao động được tạo nhiều cơ hội để khám phá năng lực bản thân thông qua sự luân chuyển công việc định kỳ hay các công việc mang tính thử thách, đòi hỏi chuyên môn cao. - Cơ hội phát triển: người lao động được tạo cơ hội thăng tiến lên những vị trí cao hơn trong tổ chức, phù hợp với trình độ và sự nỗ lực của cá nhân người lao động. - Sự hội nhập xã hội: nhận được sự hỗ trợ nhiệt tình từ đồng nghiệp, lãnh đạo và tổ chức tại nơi làm việc. - Quy tắc trong tổ chức: người lao động được tôn trọng được chấp nhận và đối xử công bằng trong các quyền lợi cá nhân.
- Sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống: người lao động cân bằng được thời gian cho công việc và cuộc sống của mình. - Niềm tự hào về tổ chức: mỗi thành viên cảm thấy tự hào khi là một thành viên trong tổ chức thông qua những đóng góp của tổ chức đối với xã hội. Nghiên cứu của Huse và Cummings (1985) Nguồn: Nghiên cứu của Huse và Cummings (1985) 1. Các nghiên cứu khác.
Bên cạnh những nghiên cứu nổi tiếng của Walton (1974), Huse và Cummings (1985) về chất lượng cuộc sống công việc, cũng có những nghiên cứu khác về vấn đề này, chẳng hạn như nghiên cứu của Mirvis và Lawer (1984) phản ánh mối quan hệ giữa chất lượng cuộc sống công việc và sự hài lòng thông qua các yếu tố như lương, giờ và điều kiện làm việc, phát triển năng lực bản thân…. Ngoài ra còn có Luận văn thạc sĩ Kinh tế một số nghiên cứu khác về các yếu tố của chất lượng cuộc sống công việc như sau: Bảng 1.1: Các thành phần của QWL theo các nhà nghiên cứu khác Lĩnh vực nghiên Tác giả Các thành phần của QWL cứu Taylor (1978) (1) Lương thưởng thỏa đáng, công bằng Kỹ thuật (Mỹ) (2) Môi trường làm việc đảm bảo sức khỏe và an toàn. (3) Phát huy năng lực cá nhân (4) Đặc điểm, tính chất, nhiệm vụ nội dung công việc (5) Trách nhiệm đối với xã hội, niềm tự hào công việc Levine, Taylor (1) Tôn trọng cấp trên và tin tưởng vào năng lực Bảo hiểm (châu and Davis (1984) của nhân viên Âu) (2) Thay đổi công việc (3) Thách thức trong công việc 9 (4) Cơ hội phát triển trong tương lai phát sinh từ hiện tại (5) Công việc (6) Tự trọng (7) Phạm vi công việc và cuộc sống ngoài công việc bị ảnh hưởng (8) Đóng góp đối với xã hội Mirvis and (1) Lương Dịch vụ doanh Lawer (1984) (2) Điều kiện và số giờ làm việc nghiệp (Anh) (3) Không gian làm việc an toàn (4) Mức lương hợp lý (5) Đối xử công bằng (6) Cơ hội thăng tiến Lau and Bruce (1) Công việc an toàn Dịch vụ công (1998) (2) Hệ thống lương thưởng nghiệp sản xuất ( (3) Đào tạo Mỹ) Luận văn thạc sĩ Kinh tế (4) Cơ hội phát triển nghề nghiệp (5) Tham gia vào quá trình quyết định công việc Seyed Mehdi (1) Lương và các phúc lợi thỏa đáng, công bằng Marketing (Iran) Hoseini, (2) Tuân thủ các điều kiện an toàn và khỏe mạnh Gholamreza (3) Cơ hội phat triển nghề nghiệp và đảm bảo nghề Mehdizadeh nghiệp Jorjatki (2010) (4) Sự công nhận của tổ chức (5) Mối quan hệ giữa cuộc sống công việc, cuộc sống ngoài xã hội và cuộc sống cá nhân (6) Sự điều chỉnh tổng thể không gian sống (7) Nâng cao năng lực cá nhân Nguồn: T. Khái niệm về sự thỏa mãn trong công việc.
Về định nghĩa, thỏa mãn trong công việc được hiểu là những phản ứng tích cực của nhân viên đối với công việc trong tổ chức khi được đáp ứng những nhu cầu, nguyện vọng và mong muốn của bản thân trong quá trình làm việc. Và từ lâu sự thỏa mãn của nhân viên trong công việc được xem là phép đo cho sự thành công 10 của tổ chức, bởi khi đó nhân viên đóng góp nhiều hơn cho tổ chức, cống hiến nhiều hơn và sẽ mang lại năng suất cao trong công việc, gia tăng kết quả kinh doanh. Vào năm 1997, Spector đã thưc hiện một nghiên cứu và ông đưa ra kết luận rằng: sự thỏa mãn công việc chính là việc nhân viên cảm thấy yêu thích công việc của mình và các khía cạnh khác nhau có liên quan Yếu tố này phụ thuộc chung vào sự đánh giá của nhân viên nên chỉ được xem như là một biến thái độ bởi lúc này công việc như một phần trong cuộc sống mỗi nhân viên. Nối tiếp những nghiên cứu trước đó, vào năm 2007, Kreitner và Kinicki cũng thực hiện nghiên cứu của riêng mình và đưa ra kết luận: sự thỏa mãn công việc của nhân viên phụ thuộc vào cảm xúc hay tình cảm mà người đó dành cho công việc của mình, điều đó phản ánh mức độ yêu thích của người nhân viên đối với công việc.
Nghiên cứu Hawthorne cho rằng những cảm nhận, thái độ của con người và mối quan hệ của họ với người cộng sự sẽ tác động đến công việc của họ, đồng thời Luận văn thạc sĩ Kinh tế tác động đến sự thỏa mãn của nhân viên. Đây cũng chính là nghiên cứu đã tác động mạnh mẽ đến các tư duy về quản trị trong thập niên 1950s và 1960s. Hay theo Abraham Maslow (1943) các nhu cầu của con người sẽ được thỏa mãn một cách ứu thiên theo thứ tự từ bậc thấp đến bậc cao thông qua thang bậc nhu cầu: nhu cầu về tự thể hiện, nhu cầu về đánh giá- tôn trọng, nhu cầu về xã hội, nhu cầu về an toàn và nhu cầu về sinh vật học. Ông cho rằng những nhà quản trị nào thông hiểu được nhu cầu và giúp nhân viên thỏa mãn được những nhu cầu quan trọng của họ tại nơi làm việc sẽ làm cho năng suất của tổ chức tăng lên.