Phần mở đầu. 3 Chương 2: Cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực Viễn thông. Chương 3: Phương pháp tiến hành nghiên cứu. Chương 4: Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của dịch vụ di động VinaPhone tại Trung tâm Kinh doanh VNPT – Bình Dương.
Chương 5: Một số giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của dịch vụ di động VinaPhone tại Trung tâm Kinh doanh VNPT – Bình Dương. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC VIỄN THÔNG 2.1 Tổng quan nghiêncứu của đề tài 2.1 Tổng quan về các nghiên cứu nước ngoài Li & Xu (2004) với công trình “The impact of privatization and competition in the telecommunications sector around the world”. Journal of Law and Economics đã nêu lên sự tác động của tư nhân hóa và sự cạnh tranh cóảnh hưởng tích cực đối với sức cạnh tranh ngành viễn thông. Abeysinghe & Paul (2005) với công trình “Privatization and technological capability development in the telecommunications sector: a case study of Sri Lanka Telecom ”.
Technology in Society đã phân tích sự ảnh hưởng quan trọng củanăng lực công nghệ và tư nhân hóa đối với ngành viễn thông. Ngành viễn thông muốn nâng cao sức cạnh tranh cần có năng lực công nghệ tốt và môi trường kinh doanh tự do và minh bạch. Necniỉddin Bagdadioglu & Murat Cetinkaya (2010) với công trình “Sequencing in telecommunications reform: A review of the Turkish case”. Telecommunications Policy đã đưa ra bài học kinh nghiệm từ sự đổi mới ngành viễn thông Thổ Nhĩ Kỳ thông qua việc đổi mới mạnh mẽ cơ cấu sở hữu trong các doanh nghiệp viễn thông, cho phép tư nhân tham gia mua hơn 50% cổ phần tại các doanh nghiệp viễn thông quốc doanh.2 Tổng quan về các nghiên cứu trong nước Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giá Lê Ngọc Minh (2008) “Phát triển kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thông tin di động tại Việt Nam”.
Đề tài đã nghiên cứu và hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thông tin di động. Qua đó, phân tích thực trạng các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thông tin di động Việt Nam hiện nay trong đó lấy 3 doanh nghiệp có thị phần chiếm 95% thị trường là Tổng doanh nghiệp viễn thông Quân đội nay là Tập đoàn viễn thông Quân đội Viettel, Doanh nghiệp thông tin di động VMS (MobiFone), Doanh nghiệp dịch vụ viễn thông Vinaphone làm đối tượng nghiên cứu chủ yếu. Đồng thời luận văn cũng đã đưa ra cơ hội, thách thức, mục tiêu và các giái pháp phát triển kinh doanh dịch vụ thông tin di động tại Việt Nam thời gian tới. Luận văn tập trung ở khía cạnh vi mô, cụ thể là các biện pháp, giải pháp để phát triển kinh doanh, lượng thuê hao, doanh thu, lợi nhuận, tăng sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp này.
Báo cáo nghiên cứu chính sách về cạnh tranh ngành viễn thông Việt Nam (2005). Đây là báo cáo trong khuôn khổ Dự án nâng cao Năng lực cạnh tranh Việt Nam VNCI do Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ USAID tài trợ được hoàn thành. Báo cáo đã phân tích đánh giá năng lực cạnh tranh ngành viễn thông Việt Nam dưới góc độ: Khuôn khổ pháp lý và thể chế của Nhà nước Việt Nam như trách nhiệm của các bộ ngành đối với chính sách viễn thông Việt Nam, chính sách và chiến lược phát triển viễn thông, quy định pháp luật về viễn thông, quy định quản lý về viễn thông. Báo cáo đã nghiên cứu cơ cấu thị trường và vấn đềsở hữu trong kinh doanh viễn thông, vai trò chủ đạo của VNPT bởi vì giai đoạn 2005 trở về trước, VNPT chiếm độc quyền và là nhà cung cấp dịch vụ viễn thông chính yếu của Việt Nam.
Báo cáo cũng đưa ra kết quả khảo sát khách hàng sử dụng dịch vụ viễn thông. Đây là báo cáo rất hay đánh giá thực trạng cạnh tranh ngành viễn thông những năm 2005 trở về trước. Nghiên cứu chưa đánh giá có những nhân tố nào ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành viễn thông Việt Nam, đánh giá năng lực cạnh tranh bằng bộ tiêu chí nào. Tác phẩm “Đánh giá chất hrợng dịch vụ và chất lượng mạng viễn thông” của tác giảNguyễn Hữu Dũngđã giới thiệu các định nghĩa, các tham so đánh giá, các phương pháp đo đạc và kiểm tra trong thực tế, các phương pháp thu thập và thống nhất hóa các dữ liệu cho việc đánh giá về QoS và NP.
Một số kiến nghị cho công tác đo, 6 kiểm tra, giám sát chất lượng dịch vụ và chất lượng mạng viễn thông. Tác phẩm viễn thông dưới góc độ công nghệ và kỹ thuật để nâng cao chất lượng mạng góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ cho ngành viễn thông. Luận án tiến sĩ “Tăng cường năng lực cạnh tranh của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam trong điều kiện Việt Nam là thành viên của tổ chức thương mại thế giới” của tác giả Trần Thị Anh Thư (2012) đã đề cập đến vấn đề cạnh tranh trongthời kỳ hội nhập của lĩnh vực Bưu chính Viễn thông và các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh với các phương pháp chủ yếu: + Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp và thông tin sơ cấp thông qua điều tra khảo sát khách hàng và các chuyên gia. + Phương pháp phân tích định tính và định lượng.
Trong đó, tác giả đã đi sâu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như: năng lực tài chính, năng lực quản lý và điều hành, giá trị phi vật chất của doanh nghiệp, năng lực Marketing,. + Sử dụng phương pháp phân tích ma trận SWOT. Trên cơ sở nghiên cứu các cơ sở lý luận về cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh, tác giả đã hệ thống hóa và luận giải một số cơ sở lý luận về nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Từ đó đã đề xuất 2 mô hình phân tích năng lực cạnh tranh và các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh.2 Một số khái niệm 2.1 Khái niệm cạnh tranh Doanh nghiệp là một chủ thể đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường, vì thế sự tồn tại của doanh nghiệp chịu sự tác động của các quy luật kinh tế khách quan như: quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh.
Trong nền kinh tế thị trường mọi tổ chức, cá nhân được quyền tự do lựa chọn lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh mà pháp luật không cấm, đây là nguồn gốc dẫn tới cạnh tranh. Cạnh tranh trên thị trường rất đa dạng và phức tạp giữa các chủ thể có lợi ích kinh tế đối lập nhau như: cạnh tranh giữa những người mua, cạnh tranh giữa những người bán, giữa người bán với người mua, giữa những nhà sản xuất, giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài,. Cạnh tranh xuất hiện trong quá trình hình thành và phát triển của nền sản xuất hàng hóa. 7 Do có nhiều tiếp cận khác nhau, bởi mục đích nghiên cứu khác nhau, nên trong thực tế có nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh.
Khi nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản, C.Mác (2005) đã đưa ra quan niệm về cạnh tranh như sau: Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch. Như vậy, từ việc nghiên cứu xã hội tư bản chủ nghĩa, gắn liền đó là chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, C.Mác đã nhìn nhận cạnh tranh dưới góc độ là cá lớn nuốt cá bé, là lấn át, chèn ép lẫn nhau để tồn tại và thu được lợi nhuận cao nhất. Theo Từ điển tiếng Việt, cạnh tranh là cố gắng giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích như nhau trên cùng một địa bàn, một lĩnh vực(Minh Tân và Cộng sự, 1998). Xét ở góc độ quốc gia, cạnh tranh được hiểu là quá trình đương đầu của quốc gia này với quốc gia khác trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Xét ở góc độ doanh nghiệp,cạnh tranh là sự ganh đua về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể tham gia thị trường nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Đối với khách hàng bao giờ cũng muốn mua được hàng hóa có chất lượng tốt mà lại rẻ, còn các doanh nghiệp lại muốn tối đa hóa lợi nhuận của mình. Với mục tiêu lợi nhuận đòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm cách giảm mức phí, giành giật khách hàng về phía mình. Trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế ngày nay thì cạnh tranh được coi là môi trường, động lực của sự phát triển, các nhà kinh tế học quan niệm, cạnh tranh là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các nhà sản xuất kinh doanh với nhau dựa trên chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất nhằm đạt được những điều kiện sản xuất và tiêu thụ có lợi nhất, đồng thời tạo điều kiện cho sản xuất phát triển(Bạch Thụ Cường, 2002).
Nhìn chung, có thể hiểu cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế (các nhà sản xuất, nhà kinh doanh) ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp để đạt được mục tiêu kinh tế của mình, thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, tiêu thụ có lợi nhất nhằm tối đa hoá lợi nhuận (C. Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải nhận thức đúng đắn về cạnh tranh để phát huy nội lực, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng. Mặt khác, tránh bất hợp pháp 8 dẫn đến làm tổn hại đến lợi ích kinh tế của cộng đồng cũng như làm suy yếu chỉnh bản thân mình.2Vai trò Đối với nền kinh tế quốc dân, cạnh tranh là một trong những điều kiện quan trọng để phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao tiến bộ khoa học kỹ thuật, hiện đại hoá nền sản xuất xã hội, tiết kiệm thời gian và tăng năng suất lao động xã hội, cho phép sử dụng hiệu quả các yếu tố sản xuất và phục vụ ngày càng tốt nhu cầu đa dạng và phong phú của người tiêu dùng. Cạnh tranh lành mạnh cho phép tự phát duy trì những cân đối của nền kinh tế và là môi trường, động lực thúc đẩy sự phát triển bình đẳng cùng có lợi của mọi thành phần kinh tế, không phân biệt các loại hình DN, qua đó góp phần xoá bỏ dần những đặc quyền không nên có và xoá bỏ những bất bình đẳng trong kinh doanh.