PHẦN MỞ ĐẦU I. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Trong những năm gần đây, mục tiêu nâng cao ATGT đã trở thành vấn đề toàn cầu mà các quốc gia trên thế giới phải dành nhiều thời gian quan tâm và nghiên cứu các giải pháp phù hợp. Theo Tổ chức Y tế thế giới, mỗi năm trên thế giới có khoảng 1,24 triệu ngƣời tử vong do các nguyên nhân gây mất ATGT, và để nâng cao nhận thức cho tất cả mọi ngƣời ở các nƣớc trên toàn cầu WHO đã chọn ngày 7/4 là ngày “An toàn giao thông”. Cũng tƣơng tự nhƣ thế, Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc cũng nhận thấy rằng, vấn đề ATGT đã thực sự trở thành vấn đề toàn cầu, đáng báo động về số ngƣời tử vong, do đó UN và WHO đã phát động “Thập kỷ Hành động vì An toàn Giao thông Đƣờng bộ 2011-2020”.
Điều đó cho thấy, nâng cao ATGT là bài toán của không riêng gì quốc gia nào. Tại Việt Nam, nhờ vào nguồn lực phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đã giúp cho đất nƣớc và ngành GTVT có cơ hội xây dựng nhiều công trình hạ tầng kỹ thuật hiện đại và hoàn chỉnh, qua đó tạo điều kiện thuận và đáp ứng nhu cầu thông thƣơng, giao thông và vận tải cho ngƣời dân và các thành phần kinh tế. Nhƣng với những mặt tích cực đó, vấn đề đảm bảo giao thông thông suốt và an toàn lại gặp trở ngại khó khăn là đảm bảo ATGT cho ngƣời và phƣơng tiện tham gia. Theo thống kê của Ủy ban ATGT quốc gia Việt Nam, mỗi ngày Việt Nam có hàng chục ngƣời chết vì tai nạn giao thông, mỗi năm có hàng ngàn vụ TNGT xảy ra và số ngƣời chết cũng tƣơng đƣơng với số vụ tai nạn.
Nguyên nhân xảy ra tình trạng này đƣợc tổng hợp lại rất nhiều, xét về yếu tố khách quan của riêng ngành GTVT là ý thức tham gia giao thông của ngƣời dân, phƣơng tiện giao thông không còn đảm bảo những tiêu chuẩn cho việc thông hành trên đƣờng. Thì ở đây vẫn cần nói đến vấn đề chủ quan của ngành GTVT nhƣ: Bố trí các nút giao không hợp lý, không đảm bảo an toàn cho các phƣơng tiện, tầm nhìn hạn chế, giao cắt liên tục; thiết kế và bố trí các bảng hiệu hƣớng dẫn giao thông không hợp lý; việc phân làn, phân cách tiến hành theo cảm tính, máy móc theo tiêu chuẩn mà không có sự uyển chuyển trong cách áp dụng; buông lỏng quản lý các loại phƣơng tiện trong phạm vi trách nhiệm của mình, không có sự phối hợp đồng bộ cùng đơn vị khác có cùng nhiệm vụ đảm bảo ATGT trên tuyến đƣờng, đặc biệt là lực lƣợng cảnh sát giao thông, công an khu vực tại địa phƣơng. Khẩu ngữ “An toàn giao thông là hạnh phúc cho mọi nhà” luôn luôn đƣợc nhắc nhở đến mọi ngƣời, mọi nhà tham gia giao thông. Chính vì vậy, việc đảm bảo ATGT không chỉ riêng là vấn đề nâng cao nhận thức, hiểu biết cho ngƣời tham gia giao thông.
Mà ngành GTVT cần có những nghiên cứu cụ thể, vận dụng linh hoạt các tiêu chuẩn, quy phạm đã đƣợc ban hành, cũng nhƣ học tập kinh nghiệm tổ chức giao thông của các nƣớc phát triển và các nƣớc trong khu vực, để có những đánh giá chính xác và thực hiện tổ chức giao thông phù hợp cho từng tuyến đƣờng riêng biệt. Trang 1 Chính vì vậy, tôi xin đề xuất đề tài “Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả an toàn giao thông cho tuyến vận tải hành khách liên tỉnh TP.Hồ Chí Minh - Bà Rịa Vũng Tàu” sẽ đóng góp thêm những ý tƣởng mới cho công tác quản lý giao thông hiện nay. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU Nghiên cứu các giải pháp nâng cao ATGT đã và đang áp dụng ở các nƣớc trên thế giới và trong khu vực; Nghiên cứu các giải pháp nâng cao ATGT đã và đang áp dụng ở Việt Nam. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Nghiên cứu các giải pháp nâng cao ATGT đã và đang áp dụng ở các nƣớc trong khu vực và trên thế giới; Nghiên cứu đánh giá thực trạng và các giải pháp nâng cao ATGT đối với VTHK liên tỉnh ở Việt Nam; Nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao ATGT phù hợp, tối ƣu áp dụng cho tuyến VTHK liên tỉnh TP.Hồ Chí Minh - Bà Rịa Vũng Tàu.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI Phân tích các nguyên nhân ảnh hƣởng đến khả năng đảm bảo ATGT của hoạt động VTHK liên tỉnh ở Việt Nam; Nghiên cứu các giải pháp nâng cao ATGT đã và đang đƣợc áp dụng trên thế giới và trong khu vực, tiếp đó rút ra các giải pháp phù hợp và tối ƣu áp dụng cho tuyến VTHK liên tỉnh ở Việt Nam; Xây dựng đề xuất các giải pháp nâng cao ATGT cho VTHK liên tỉnh ở Việt Nam; Nghiên cứu thực trạng ATGT tuyến VTHK liên tỉnh TP. Hồ Chí Minh - Bà Rịa Vũng Tàu và đề xuất các giải pháp nâng cao ATGT. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Nghiên cứu lý thuyết và tổng hợp kết quả tích cực của các giải pháp nâng cao ATGT đã và đang áp dụng ở các nƣớc trong khu vực và trên thế giới; Nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp cụ thể cho tuyến VTHK TP.Hồ Chí Minh - Bà Rịa Vũng Tàu thông qua đánh giá thực tế. Trang 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ AN TOÀN GIAO THÔNG CHO TUYẾN VẬN TẢI HÀNH KHÁCH LIÊN TỈNH Ở VIỆT NAM 1.1 TỔNG QUAN VỀ AN TOÀN GIAO THÔNG CHO TUYẾN VẬN TẢI HÀNH KHÁCH LIÊN TỈNH Ở VIỆT NAM 1.1 Khái niệm vận tải, vận tải hành khách, vận tải hành khách liên tỉnh 1.1 Khái niệm vận tải Vận tải là một hoạt động kinh tế có mục đích của con ngƣời nhằm đáp ứng nhu cầu di chuyển vị trí của đối tƣợng vận chuyển, đối tƣợng vận chuyển gồm con ngƣời (hành khách) và vật phẩm (hàng hoá).
Sự di chuyển vị trí của con ngƣời và vật phẩm trong không gian rất đa dạng, phong phú và không phải mọi di chuyển đều là vận tải. Vận tải là hoạt động vận chuyển con ngƣời và hàng hóa trong không gian, đáp ứng đƣợc các điều kiện về thời gian, địa điểm và lợi ích kinh tế giữa các chủ thể tham gia. Vận tải thực hiện nhiệm vụ thông qua các phƣơng tiện giao thông nhƣ ô tô, tàu hỏa, thuyền bè hoặc máy bay. Vận tải chỉ bao gồm những di chuyển do con ngƣời tạo ra nhằm mục đích kinh tế (lợi nhuận) để đáp ứng yêu cầu về sự di chuyển đó mà thôi.
Tất cả của cải vật chất chủ yếu cần thiết cho sự tồn tại và phát triển xã hội loài ngƣời, của cải vật chất của xã hội đƣợc tạo ra ở 4 ngành sản xuất vật chất cơ bản: Công nghiệp khai khoáng; Công nghiệp chế biến; Nông nghiệp và Vận tải. Đối với một ngành sản xuất vật chất nhƣ công nghiệp, nông nghiệp. trong quá trình sản xuất đều có sự kết hợp của 3 yếu tố, đó là công cụ lao động, đối tƣợng lao động và sức lao động. Vận tải cũng là một ngành sản xuất vật chất vì trong quá trình sản xuất của ngành vận tải cũng có sự kết hợp của 3 yếu tố trên.
Ngoài ra, trong quá trình sản xuất của ngành vận tải cũng đã tiêu thụ một lƣợng vật chất nhất định nhƣ: vật liệu, nhiên liệu, hao mòn phƣơng tiện vận tải. Hơn nữa, đối tƣợng lao động (hàng hoá, hành khách vận chuyển) trong quá trình sản xuất vận tải cũng trải qua sự thay đổi nhất định. Có thể khái niệm về vận tải nhƣ sau: Vận tải là quá trình thay đổi (di chuyển) vị trí của hàng hoá, hành khách trong không gian và thời gian để nhằm thoả mãn nhu cầu nào đó của con ngƣời.2 Khái niệm về vận tải hành khách VTHK: là một hoạt động thành phần trong vận tải, với đối tƣợng vận chuyển là con ngƣời. Hoạt động VTHK đƣợc thực hiện bởi các thành phần kinh tế nhƣ doanh nghiệp nhà nƣớc, hợp tác xã vận tải, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tƣ nhân và các thành phần khác, đáp ứng đầy đủ các điều kiện đƣợc pháp luật quy định cụ thể cho từng loại hình VTHK riêng biệt.3 Khái niệm về vận tải hành khách liên tỉnh VTHK liên tỉnh: là hoạt động vận chuyển con ngƣời giữa các địa phƣơng, tỉnh, thành phố trong cả nƣớc với nhau.
Doanh nghiệp hoạt động VTHK phải đăng ký tuyến cố định với cơ quan quản lý, cùng đầy đủ các thông tin theo quy định (Thông tƣ số 63/2014/TT-BGTVT: Quy định về tổ chức, quản lý hoạt động vận tải bằng ô tô và dịch vụ hỗ trợ vận tải, ban hành ngày 07/11/2014) nhƣ: địa điểm đón trả khách, lịch trình của tuyến, thời gian đón khách, thời gian chạy tuyến, giá vé.2 Vai trò, đặc điểm của vận tải 1.1 Vai trò của vận tải Vận tải nói chung và vận tải ô tô nói riêng có chức năng vận chuyển hàng hóa và hành khách nhằm đáp ứng yêu cầu nguyên, nhiên vật liệu cho sản xuất, tiêu dùng và sự đi lại của nhân dân. Nếu thiếu nó thì quá trình sản xuất nào cũng không thể thực hiện đƣợc, việc giao lƣu hàng hóa giữa các khu vực, các vùng và sự đi lại của nhân dân sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy, vận tải ô tô cần thiết đối với tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất, đối với việc lƣu thông hàng hóa phục vụ nhu cầu tiêu dùng và đi lại của nhân dân. Vận tải ô tô là cầu nối giữa sản xuất với tiêu dùng, giữa thành phố với nông thôn, giữa miền xuôi với miền ngƣợc, ngoài ra còn làm nhiệm vụ chuyển tải giữa vận tải đƣờng sắt, vận tải đƣờng không, vận tải đƣờng thủy đến các địa điểm sản xuất và tiêu dùng.
Vận tải ô tô còn phục vụ đắc lực cho việc vận chuyển nhân lực, vật tƣ, thiết bị đến các vùng có thiên tai nhƣ hỏa hoạn, bão lũ, động đất… để phòng chống hay khắc phục hậu quả khi có sự cố xảy ra. Vận tải ô tô còn góp phần cơ động lực lƣợng vũ trang, khí tài chiến đấu và phục vụ hậu cần để trấn áp các vụ bạo loạn của kẻ thù hoặc hoạt động biệt kích thâm nhập qua biên giới trên đất liền hay vùng bờ biển. Vận tải ô tô góp phần phân bố lực lƣợng sản xuất, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng của mỗi quốc gia. Vì vậy, phát triển ngành vận tải ô tô từ trƣớc đến nay ở mỗi quốc gia đều là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế của đất nƣớc, bảo đảm an ninh, quốc phòng và đòi hỏi phải phát triển trƣớc một bƣớc.