Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Giai đoạn 2011–2013, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đối mặt với nhiều biến động: lạm phát cao, thị trường chứng khoán và bất động sản sụt giảm, cạnh tranh lãi suất huy động giữa các tổ chức tín dụng ngày càng quyết liệt. Trong bối cảnh đó, vốn huy động tiền gửi giữ vai trò nền tảng cho toàn bộ hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, chiếm tỷ trọng hơn 90% tổng nguồn vốn. Sacombank – Chi nhánh Hải Phòng, sau hơn 5 năm hoạt động (khai trương 15/12/2006), bước vào giai đoạn tăng trưởng mạnh nhưng cũng gặp không ít khó khăn trong công tác huy động vốn do áp lực cạnh tranh từ nhiều ngân hàng thương mại khác cùng địa bàn.
Tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về hoạt động huy động vốn tiền gửi và hiệu quả hoạt động huy động vốn tiền gửi của ngân hàng thương mại.
- Phân tích thực trạng hiệu quả huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Hải Phòng.
- Đề xuất các giải pháp hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tiền gửi tại đơn vị.
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động huy động vốn tiền gửi tại NH TMCP Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Hải Phòng, bao gồm thực trạng, nguyên nhân tồn tại và các giải pháp kiến nghị.
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Hải Phòng (trụ sở tại 62–64 Tôn Đức Thắng, Hải Phòng, kèm 5 phòng giao dịch trực thuộc).
- Thời gian: Số liệu phân tích giai đoạn 2011–2013, lấy từ sổ sách kế toán, bảng cân đối quy đổi và báo cáo huy động theo kỳ hạn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và khái niệm
Khóa luận sử dụng khung lý thuyết về ngân hàng thương mại và nghiệp vụ huy động vốn, cụ thể dựa vào giáo trình "Nghiệp vụ ngân hàng thương mại" làm tài liệu lý thuyết nền. Các khái niệm cốt lõi được hệ thống hoá gồm:
- Nguồn vốn của NHTM: vốn chủ sở hữu, vốn huy động (chiếm hơn 90% tổng nguồn vốn), vốn đi vay, vốn khác.
- Vốn huy động tiền gửi (VTG): được phân loại theo kỳ hạn (không kỳ hạn, có kỳ hạn), theo đối tượng khách hàng (cá nhân, tổ chức kinh tế), theo loại tiền tệ (nội tệ, ngoại tệ).
- Các loại hình tiền gửi: tiền gửi không kỳ hạn (demand deposit), tiền gửi có kỳ hạn (1, 2, 3, 6, 12, 24, 36, 60 tháng), tiền gửi tiết kiệm có sổ.
- Các công cụ huy động vốn khác: phát hành giấy tờ có giá (kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi), vay từ tổ chức tín dụng khác và từ Ngân hàng Nhà nước.
- Nhân tố tác động: lãi suất, chất lượng và mức độ đa dạng của sản phẩm dịch vụ, uy tín và năng lực tài chính của ngân hàng, mạng lưới hoạt động, đội ngũ nhân sự, thu nhập và thói quen sử dụng tiền mặt của dân cư, tính cạnh tranh của hệ thống ngân hàng, chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước (bao gồm công cụ lãi suất và dự trữ bắt buộc), tỷ lệ lạm phát và kỳ vọng kinh tế.
- Chỉ tiêu đánh giá mở rộng VTG: quy mô và tốc độ tăng trưởng vốn tiền gửi, cơ cấu vốn tiền gửi theo kỳ hạn và loại tiền tệ, chi phí huy động bình quân, mức độ đa dạng hoá hình thức huy động.
Khóa luận không trích dẫn hay phân tích văn bản pháp luật cụ thể nào ngoài quy định về tiền gửi tại Luật các Tổ chức tín dụng (được dẫn chiếu để định nghĩa khái niệm tiền gửi).
Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng tổ hợp các phương pháp: điều tra, phân tích, tổng hợp, thống kê và logic, kết hợp với bảng biểu và sơ đồ minh hoạ. Không có phương pháp định lượng (khảo sát bảng hỏi, hồi quy) hay thực nghiệm; đây là nghiên cứu phân tích tài liệu thứ cấp kết hợp thực tập tại đơn vị.
Nguồn dữ liệu
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Sacombank – Chi nhánh Hải Phòng các năm 2011, 2012, 2013.
- Bảng cân đối quy đổi và báo cáo huy động theo kỳ hạn của chi nhánh.
- Bảng số liệu nhân sự và tài liệu nội bộ khác của Sacombank – Chi nhánh Hải Phòng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hoạt động huy động vốn tiền gửi của ngân hàng thương mại
Chương này xây dựng khung lý thuyết cho toàn bộ khóa luận. Tác giả hệ thống vai trò của NHTM trong bốn khía cạnh: (1) cung cấp vốn cho nền kinh tế; (2) cầu nối giữa doanh nghiệp và thị trường; (3) công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước thông qua quan hệ với NHNN (thị trường mở, dự trữ bắt buộc, lãi suất); (4) cầu nối giữa nền tài chính quốc gia với tài chính quốc tế (thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối, ủy thác đầu tư).
Phần trọng tâm phân loại chi tiết các hình thức tiền gửi: tiền gửi không kỳ hạn (tài khoản giao dịch và tài khoản phi giao dịch), tiền gửi có kỳ hạn với dải kỳ hạn 1–60 tháng, tiền gửi tiết kiệm (không kỳ hạn và có kỳ hạn). Chương phân tích vai trò của VTG đối với ba chủ thể: nền kinh tế (biến vốn nhàn rỗi thành vốn hoạt động, thúc đẩy công nghiệp hoá – hiện đại hoá), ngân hàng (cơ sở quyết định quy mô tín dụng và năng lực thanh toán), và người gửi tiền (kênh bảo quản an toàn, hưởng lãi, tiếp cận dịch vụ thanh toán).
Tác giả trình bày hệ thống các chỉ tiêu đánh giá mở rộng VTG gồm: quy mô và tốc độ tăng trưởng; cơ cấu kỳ hạn phù hợp nhu cầu sử dụng vốn; khả năng điều hành lãi suất và tiết kiệm chi phí huy động (chi phí trả lãi, chi phí nhân sự, chi phí quảng cáo, bảo hiểm tiền gửi); mức độ đa dạng hoá công cụ và kỳ hạn; mức độ thuận tiện cho khách hàng.
Chương 2: Thực trạng huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Hải Phòng
Chương này là phần thực nghiệm chính của khóa luận, gồm bốn nội dung lớn.
Tổng quan về Sacombank và chi nhánh Hải Phòng: Sacombank được thành lập ngày 21/12/1991 tại TP. HCM trên cơ sở hợp nhất 4 hợp tác xã tín dụng (Gò Vấp, Tân Bình, Thành Công, Lữ Gia), vốn điều lệ ban đầu 3 tỷ đồng. Đến cuối năm 2003, vốn điều lệ tăng lên 740 tỷ đồng. Tính đến năm 2012: tổng tài sản đạt khoảng 165.000 tỷ đồng (tăng 18% so với 2011), vốn điều lệ 14.176 tỷ đồng (tăng 32%), tổng nguồn vốn huy động khoảng 143.500 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế 3.400 tỷ đồng (tăng 24% so với 2011), tỷ lệ CAR trên 9%, tỷ lệ nợ quá hạn không quá 2,5%. Ngày 12/07/2006, Sacombank là ngân hàng đầu tiên niêm yết cổ phiếu trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. HCM. Chi nhánh Hải Phòng khai trương 15/12/2006, đến tháng 12/2011 có 108 nhân sự (từ 33 nhân sự ban đầu), 4 phòng nghiệp vụ và 5 phòng giao dịch (PGD Tam Bạc, PGD Văn Cao, PGD Lạc Viên, PGD Hoa Phượng, PGD Thủy Nguyên).
Kết quả hoạt động kinh doanh (2011–2013):
| Chỉ tiêu |
2011 (triệu đồng) |
2012 (triệu đồng) |
2013 (triệu đồng) |
| Tổng thu hoạt động (lũy kế) |
48.319 |
51.938 |
47.810 |
| Thu ròng từ lãi |
34.876 |
41.023 |
36.155 |
| Thu dịch vụ thuần |
5.954 |
6.554 |
8.469 |
| Thu thuần kinh doanh ngoại hối |
6.086 |
2.257 |
1.439 |
| Tổng chi hoạt động (lũy kế) |
20.960 |
25.562 |
25.182 |
| Lợi nhuận trước DPRR |
27.359 |
26.376 |
22.629 |
| Lợi nhuận trước thuế |
27.419 |
7.151 |
11.778 |
Lợi nhuận trước DPRR giảm liên tiếp: từ 27.359 triệu đồng (2011) xuống 26.376 triệu đồng (2012, giảm 983 triệu đồng, tương ứng khoảng 3,6%) và 22.629 triệu đồng (2013, giảm 3.747 triệu đồng, tương ứng khoảng 14,2%). Nguyên nhân chủ yếu do chi phí điều hành tăng 4.615 triệu đồng trong năm 2012 (tăng 22%), trong khi thu nhập từ kinh doanh ngoại hối sụt giảm mạnh 3.829 triệu đồng (62%) so với 2011, phản ánh tác động của chính sách hạn chế kinh doanh vàng miếng của NHNN.
Kết quả huy động vốn:
| Năm |
Tổng vốn huy động (triệu đồng) |
Tăng tuyệt đối (triệu đồng) |
Tỷ lệ tăng |
| 2011 |
711.263 |
— |
— |
| 2012 |
1.068.461 |
+357.198 |
+50,23% |
| 2013 |
1.263.229 |
+194.768 |
+18,23% |
Tốc độ tăng trưởng huy động vốn chậm lại đáng kể từ năm 2012 sang 2013 do áp lực cạnh tranh lãi suất giữa các ngân hàng và lãi suất huy động liên tục biến động.
Thực trạng công tác huy động VTG: Tác giả phân tích cơ cấu tiền gửi theo ba chiều: (1) theo kỳ hạn – được thể hiện qua Bảng 2.7 so sánh tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn/có kỳ hạn giai đoạn 2011–2013; (2) theo đối tượng khách hàng (cá nhân và tổ chức kinh tế) – minh hoạ qua Sơ đồ 2.4; (3) theo loại tiền tệ (nội tệ và ngoại tệ) – được trình bày qua Bảng 2.8 và Sơ đồ 2.5. Ngoài ra, tác giả mô tả các sản phẩm huy động đặc thù của Sacombank như tiền gửi góp ngày (Sơ đồ 2.3) và các sản phẩm tiền gửi có kỳ hạn được phân khúc theo từng nhóm đối tượng khách hàng.
Kết quả sử dụng vốn: Cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn nhất (54%) trong tổng dư nợ; nợ đủ tiêu chuẩn giảm từ 629,8 tỷ đồng (2011) xuống 491,1 tỷ đồng (2013); nợ có khả năng mất vốn phát sinh từ năm 2012 (34,1 tỷ đồng) và tăng lên 57,5 tỷ đồng năm 2013, phản ánh tác động của suy thoái kinh tế và tình trạng phá sản doanh nghiệp.
Chương 3: Một số giải pháp mở rộng quy mô vốn tiền gửi tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Hải Phòng
Xuất phát từ định hướng phát triển kinh doanh chung và định hướng huy động vốn tiền gửi của Sacombank – Chi nhánh Hải Phòng, tác giả đề xuất bốn nhóm giải pháp:
- Nâng cao tính chủ động trong công tác huy động vốn tiền gửi để phát triển nguồn vốn bền vững.
- Đa dạng hoá và nâng cao chất lượng các hình thức huy động, đặc biệt tập trung vào nguồn vốn trung – dài hạn nhằm giảm áp lực thanh khoản và cải thiện cơ cấu kỳ hạn.
- Tăng cường hoạt động marketing và chiến lược khách hàng, bao gồm các chương trình khuyến mãi, tặng quà, chăm sóc khách hàng truyền thống và thu hút khách hàng mới.
- Tăng cường đào tạo nâng cao trình độ cán bộ công nhân viên, bảo đảm đội ngũ giao dịch viên vững về nghiệp vụ, thành thạo thao tác và có thái độ phục vụ chuyên nghiệp.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính có trong văn bản:
- Tổng vốn huy động của Sacombank – Chi nhánh Hải Phòng tăng liên tục từ 711.263 triệu đồng (2011) lên 1.068.461 triệu đồng (2012, +50,23%) và 1.263.229 triệu đồng (2013, +18,23%).
- Lợi nhuận trước DPRR đạt mức cao nhất 27.359 triệu đồng năm 2011, sau đó sụt giảm hai năm liên tiếp do chi phí nhân viên tăng nhanh hơn tốc độ tăng doanh thu và thu nhập kinh doanh ngoại hối giảm mạnh.
- Nợ xấu (nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn) xuất hiện từ năm 2012 và tăng đáng kể năm 2013, trong đó nợ có khả năng mất vốn đạt 57,5 tỷ đồng.
- Số lượng nhân sự tăng từ 33 người (2006) lên 108 người (2011) và 118 người (2012), trong bối cảnh nhiều ngân hàng khác tiến hành cắt giảm nhân sự.
Giải pháp tác giả đề xuất: Bốn nhóm giải pháp tập trung vào tăng tính chủ động huy động vốn, đa dạng hoá sản phẩm tiền gửi trung–dài hạn, đẩy mạnh marketing và chiến lược khách hàng, nâng cao chất lượng đào tạo nhân sự.
Đóng góp so với nghiên cứu trước: Tác giả không nêu đóng góp so sánh tường minh với các nghiên cứu trước. Đóng góp thực tiễn chủ yếu là cung cấp một bức tranh phân tích toàn diện về thực trạng huy động vốn tiền gửi tại một chi nhánh ngân hàng cụ thể trong giai đoạn kinh tế khó khăn 2011–2013, từ đó đưa ra khuyến nghị định hướng thực tế cho đơn vị.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Tác giả thừa nhận khóa luận có hạn chế do thời gian thực tập có hạn và kiến thức thực tế chưa nhiều. Văn bản không trình bày hướng nghiên cứu tiếp theo một cách rõ ràng.
Dựa vào phạm vi nghiên cứu, có thể nhận thấy một số giới hạn tự nhiên của đề tài: số liệu chỉ bao phủ 3 năm (2011–2013) tại một chi nhánh duy nhất, chưa có so sánh với các chi nhánh cùng hệ thống Sacombank tại các địa bàn khác hoặc với các ngân hàng cạnh tranh trực tiếp tại Hải Phòng; cơ cấu tiền gửi theo kỳ hạn và đối tượng khách hàng được đề cập nhưng không phân tích sâu về chi phí vốn bình quân theo từng phân khúc.
Giá trị tham khảo
Khóa luận phù hợp để tham khảo cho:
- Sinh viên ngành Tài chính – Ngân hàng đang thực hiện đề tài về huy động vốn, phân tích hoạt động kinh doanh ngân hàng tại cấp chi nhánh, đặc biệt là những đề tài nghiên cứu đơn vị cụ thể trong giai đoạn kinh tế bất ổn.
- Người thực hiện đề tài tương tự tại các ngân hàng thương mại cổ phần khác, có thể tham khảo cách xây dựng khung chỉ tiêu đánh giá mở rộng VTG (quy mô, cơ cấu kỳ hạn, cơ cấu đối tượng, loại tiền tệ, chi phí huy động).
- Phần đáng tham khảo nhất là Chương 1 (hệ thống lý luận về nghiệp vụ huy động vốn và các chỉ tiêu đánh giá) và Chương 2 phần phân tích cơ cấu nợ theo nhóm và theo thời hạn, phản ánh cách đọc và trình bày dữ liệu từ báo cáo nội bộ ngân hàng.
Câu hỏi thường gặp
1. Tổng vốn huy động của Sacombank – Chi nhánh Hải Phòng đạt bao nhiêu vào năm 2013 và tăng như thế nào so với hai năm trước?
Năm 2013, tổng vốn huy động đạt 1.263.229 triệu đồng. Năm 2012 là 1.068.461 triệu đồng (tăng 357.198 triệu đồng, tương ứng 50,23% so với 2011). Năm 2013 tăng thêm 194.768 triệu đồng (18,23%) so với 2012. Tốc độ tăng trưởng chậm lại đáng kể do cạnh tranh lãi suất quyết liệt giữa các ngân hàng.
2. Lợi nhuận trước thuế của chi nhánh biến động như thế nào trong giai đoạn 2011–2013?
Lợi nhuận trước thuế lũy kế năm 2011 đạt 27.419 triệu đồng; năm 2012 giảm mạnh xuống còn 7.151 triệu đồng do chi phí DPRR tăng vọt lên 19.225 triệu đồng; năm 2013 phục hồi một phần lên 11.778 triệu đồng. Lợi nhuận trước DPRR giảm liên tiếp từ 27.359 (2011) xuống 26.376 (2012) và 22.629 triệu đồng (2013).
3. Nợ có khả năng mất vốn của chi nhánh xuất hiện từ khi nào và đạt mức bao nhiêu năm 2013?
Năm 2011, chi nhánh không có nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn. Năm 2012, nợ có khả năng mất vốn phát sinh ở mức 34,1 tỷ đồng. Năm 2013, con số này tăng lên 57,5 tỷ đồng, chủ yếu do các doanh nghiệp khách hàng kinh doanh thua lỗ và tình trạng phá sản của nhiều cơ sở sản xuất trong khu vực.
4. Chi nhánh Hải Phòng mở rộng mạng lưới như thế nào trong giai đoạn 2006–2011?
Chi nhánh khai trương ngày 15/12/2006 với 33 nhân sự. Đến tháng 12/2011, chi nhánh đã phát triển lên 108 nhân sự với 5 phòng giao dịch: PGD Tam Bạc (06/08/2007), PGD Văn Cao (tiền thân là PGD Lạch Tray, khai trương 10/07/2008, đổi tên 14/09/2011), PGD Lạc Viên (10/04/2010), PGD Hoa Phượng (28/07/2010) và PGD Thủy Nguyên (24/12/2010).
5. Sacombank – Chi nhánh Hải Phòng đã thực hiện hoạt động xã hội nào trong giai đoạn 2007–2013 và tổng kinh phí từ thiện là bao nhiêu?
Chi nhánh trao học bổng "Sacombank – Ươm mầm cho những ước mơ" tại 20 trường THPT trong 7 năm (2007–2013) với 355 suất học bổng trị giá 365 triệu đồng. Tặng ghế đá cho các cơ quan, trường học, bệnh viện và khu di tích qua các năm 2009–2012. Tổng kinh phí ủng hộ từ thiện trong 7 năm (2007–2013) đạt khoảng 858,5 triệu đồng.
Kết luận
Khóa luận cung cấp phân tích có hệ thống về thực trạng huy động vốn tiền gửi tại Sacombank – Chi nhánh Hải Phòng trong giai đoạn 2011–2013, một giai đoạn đặc biệt khó khăn đối với toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam. Tổng vốn huy động tăng trưởng liên tục qua từng năm song tốc độ chậm dần rõ rệt, trong khi lợi nhuận trước DPRR sụt giảm và nợ xấu xuất hiện từ 2012 phản ánh áp lực kép từ cạnh tranh lãi suất và suy thoái kinh tế. Bốn nhóm giải pháp tác giả đề xuất (chủ động huy động vốn, đa dạng hoá sản phẩm trung–dài hạn, đẩy mạnh marketing, nâng cao chất lượng nhân sự) tập trung vào các điểm yếu đã được chẩn đoán từ phân tích thực trạng. Đây là tài liệu tham khảo thực tiễn phù hợp cho sinh viên ngành Tài chính – Ngân hàng khi nghiên cứu về công tác huy động vốn tại cấp chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần.