Chương I: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương II: Cơ sở lý luận về mở rộng thị trường nhập khẩu hàng hóa Chương III: Thực trạng hoạt động mở rộng thị trường nhập khẩu thiết bị y tế của Công ty Cổ phần Y Dược phẩm Vimedimex Chương IV: Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp nhằm mở rộng thị trường nhập khẩu thiết bị y tế của Công ty Cổ phần Y Dược phẩm Vimedimex 5 CHƯƠNG II - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG NHẬP KHẨU HÀNG HÓA 2. Một số khái niệm cơ bản 2. Thị trường 2. Khái niệm thị trường Theo từ điển Việt Nam, thị trường là danh từ chỉ chung những hoạt động trao đổi, mua bán và lưu thông hàng hóa, và là phần không gian mà mắt có thể nhìn bao quát được như chợ, cửa hàng, quầy hàng lưu động, phòng giao dịch hay siêu thị và nhiều hình thức tổ chức giao dịch, mua bán khác.
Trong phạm vi kinh tế học: “Thị trường là tổng thể cung cầu đối với một loại hàng hóa nhất định trong không gian và thời gian cụ thể”. Còn theo quan điểm Marketing, khái niệm thị trường được đưa ra, đó là tập hợp khách hàng hiện có và sẽ có của doanh nghiệp có chung một nhu cầu hay mong muốn, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thoả mãn nhu cầu hay mong muốn đó. Hiện nay trong các văn bản pháp luật hiện hành không có quy định cụ thể về khái niệm thị trường cũng như các vấn đề liên quan đến thị trường. Tuy nhiên, xét theo thực tế sự phát triển của xã hội thì có thể hiểu một cách khái quát: thị trường là nơi thực hiện các hoạt động trao đổi mua bán hàng hóa, dịch vụ, công sức lao động, tiền tệ,… và các mặt hàng hoặc các hoạt động tạo ra được nguồn lợi kinh tế nhằm mục đích chính thỏa mãn nhu cầu của các bên trong giao dịch về một loại hàng hóa, sản phẩm nhất định từ đó xác định cụ thể giá cả, số lượng, chất lượng… của sản phẩm dịch vụ.
Phân loại thị trường Ngày nay, các nền kinh tế phát triển ngày càng nhanh và phức tạp hơn, chính vì vậy hệ thống thị trường cũng biến đổi phù hợp với điều kiện, trình độ phát triển đó. Có 4 cách phân loại thị trường phổ biến như sau: ─ Phân loại theo phạm vi lãnh thổ gồm: thị trường vùng, thị trường địa phương, thị trường quốc gia, thị trường khu vực, thị trường thế giới. 6 ─ Phân loại theo hình thái vật chất của đối tượng trao đổi, có 2 nhóm thị trường chính là thị trường hàng hóa và thị trường dịch vụ. Trong thị trường hàng hóa chia thành 2 bộ phận là thị trường tư liệu sản xuất (yếu tố đầu vào) và thị trường hàng hóa tiêu dùng (yếu tố đầu ra).
─ Căn cứ vào số lượng và vị trí của người mua và người bán, thị trường có 3 loại là thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường cạnh tranh không hoàn hảo và thị trường độc quyền. ─ Ngoài ra, theo biểu hiện của nhu cầu và khả năng biến nhu cầu thành hiện thực thì thị trường có 3 dạng, đó là thị trường thực tế, thị trường tiềm năng và thị trường lý thuyết. Vai trò của thị trường Thứ nhất, thị trường thực hiện giá trị hàng hóa, là điều kiện, môi trường cho sản xuất phát triển. Giá trị của hàng hóa được thực hiện thông qua trao đổi.
Việc trao đổi phải được diễn ra ở thị trường. Thị trường là môi trường để các chủ thể thực hiện giá trị hàng hóa. Sản xuất hàng hóa càng phát triển, sản xuất ra càng nhiều hàng hóa, dịch vụ thì càng đòi hỏi thị trường tiêu thụ rộng lớn hơn. Sự mở rộng thị trường đến lượt nó lại thúc đẩy trở lại sản xuất phát triển.
Thứ hai, thị trường kích thích sự sáng tạo của mọi thành viên trong xã hội, phân bổ nguồn lực hiệu quả trong nền kinh tế. Thị trường đặt ra các nhu cầu tiêu dùng, buộc các doanh nghiệp nếu muốn tồn tại được phải luôn nắm bắt được các nhu cầu đó và định hướng mục tiêu hoạt động cũng phải xuất phát từ những nhu cầu đó, không ngừng nỗ lực, sáng tạo để thích ứng được với sự phát triển của thị trường. Trong quản lý kinh tế, thị trường đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc giúp nhà nước hoạch định các chính sách điều tiết vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế và vi mô đối với các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, thị trường gắn kết các mọi chủ thể giữa các khâu (sản xuất, phân phối, tiêu dùng…), giữa các vùng miền thành một thể thống nhất.
Đồng thời, thông qua thị trường, các quan hệ đó có sự kết nối, liên thông trên phạm vi thế giới. Qua đó, nắm giữ vai trò gắn kết nền kinh tế mỗi quốc gia với nền kinh tế thế giới. Khái niệm nhập khẩu Theo khoản 1 Điều 28 Luật Thương Mại 2005, nhập khẩu được định nghĩa như sau: "Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật". Theo Giáo trình Kinh doanh quốc tế (Trường Đại học Thương mại, 2021), nhập khẩu hàng hóa được hiểu là các nghiệp vụ cần thiết để đưa hàng hóa hay nguyên vật liệu từ bên ngoài vào trong lãnh thổ một quốc gia hoặc từ khu vực đặc biệt như khu vực hải quan riêng nằm trên quốc gia đó để phục vụ tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, hoặc để chờ tái xuất nhằm mục đích thu lợi nhuận.
Hiểu một cách khái quát, nhập khẩu là việc mua hàng hóa từ các tổ chức kinh tế quốc tế, các công ty nước ngoài và tiến hành tiêu thụ tại thị trường nội địa hoặc tái xuất khẩu nhằm thu lợi nhuận và nối liền sản xuất với tiêu dùng. Các hình thức nhập khẩu Có các hình thức nhập khẩu chủ yếu như sau: ─ Nhập khẩu trực tiếp (hay Nhập khẩu tự doanh): doanh nghiệp trong nước trực tiếp đứng ra ký kết hợp đồng thương mại nhập khẩu với doanh nghiệp nước ngoài, không bị ràng buộc bởi bên thứ ba trung gian nào. ─ Nhập khẩu gián tiếp (hay Nhập khẩu ủy thác): chủ hàng thuê một đơn vị trung gian (công ty chuyên về ủy thác xuất nhập khẩu) thay mặt và đứng tên nhập khẩu hàng hóa nào đó về cho công ty mình (công ty ủy thác) bằng hợp đồng ủy thác. ─ Buôn bán đối lưu: hàng hóa và dịch vụ được đổi lấy hàng hóa và dịch vụ khác có giá trị tương đương, không phải dùng tiền tệ, và được sử dụng chủ yếu trong các giao dịch mua bán với chính phủ những nước đang phát triển.
─ Tạm nhập tái xuất: hàng hóa được nhập khẩu tạm thời về Việt Nam, sau đó xuất khẩu chính hàng hóa đó sang nước khác nhằm thu lại lượng ngoại tệ lớn hơn số vốn bỏ ra ban đầu. 8 ─ Nhập khẩu gia công: bên được nhận gia công nhập nguyên vật liệu từ bên xuất khẩu để tiến hành sản xuất theo như hợp đồng hai bên đã thỏa thuận và ký kết. Đặc điểm của nhập khẩu Nhập khẩu là hoạt động có phạm vi quốc tế nên phức tạp hơn rất nhiều so với kinh doanh trong nước với những đặc điểm sau: ─ Hàng hóa nhập khẩu: đa dạng, là những mặt hàng trong nước không có, chưa sản xuất được sản xuất chưa đáp ứng được nhu cầu nội địa. ─ Hoạt động nhập khẩu chịu sự điều chỉnh của nhiều nguồn luật như các điều ước quốc tế, Luật Thương mại quốc tế và hệ thống pháp luật, tập quán kinh doanh của từng nước.
─ Thời gian lưu chuyển hàng hóa: lâu hơn kinh doanh nội địa do có nhiều thủ tục phức tạp và khoảng cách địa lý. Do đó có thể xảy ra những rủi ro đối với hàng hoá. Để đề phòng rủi ro, có thể mua bảo hiểm tương ứng cho hàng hóa. ─ Phương thức giao dịch phong phú: giao dịch thông thường (face-to-face), giao dịch qua trung gian, giao dịch qua hội chợ, triển lãm… ─ Phương thức thanh toán đa dạng: nhờ thu, hàng đổi hàng, L/C.
─ Tiền tệ dùng trong thanh toán thường là ngoại tệ mạnh có sức chuyển đổi cao như: USD, bảng Anh. ─ Nhiều phương thức vận chuyển: vận chuyển đường biển, đường hàng không, đường sắt và vận chuyển nội bộ bằng các xe có trọng tải lớn. ─ Điều kiện cơ sở giao hàng: theo Incoterms 2020 có 11 điều kiện cơ ở giao hàng, nhưng nhập khẩu chủ yếu theo điều kiện CIF, FOB. ─ Kinh doanh nhập khẩu phụ thuộc rất lớn vào kiến thức, trình độ quản lý, nghiệp vụ Ngoại thương, sự nhanh nhạy nắm bắt thông tin của doanh nghiệp.
Vai trò của nhập khẩu ➢ Đối với nền kinh tế ─ Nhập khẩu tạo ra sự chuyển giao công nghệ, do đó tạo ra sự phát triển vượt bậc của sản xuất xã hội, tiết kiệm chi phí và thời gian, tạo ra sự đồng đều về trình độ phát triển trong xã hội. 9 ─ Nhập khẩu tạo ra sự cạnh tranh giữa hàng nội và hàng ngoại, tạo ra động lực bắt buộc các nhà sản xuất trong nước phải không ngừng vươn lên, tạo ra sự phát triển xã hội và sự thanh lọc các đơn vị sản xuất. ─ Nhập khẩu xóa bỏ tình trạng độc quyền, phá vỡ triệt để nền kinh tế đóng, chế độ tự cấp, tự túc. ─ Nhập khẩu giải quyết những nhu cầu đặc biệt (hàng hóa hiếm hoặc quá hiện đại mà trong nước không thể sản xuất được).
─ Nhập khẩu là cầu nối thông suốt nền kinh tế, thị trường trong và ngoài nước khác nhau, tạo điều kiện phân công lao động và hợp tác quốc tế, phát huy được lợi thế so sánh của đất nước trên cơ sở chuyên môn hóa. ➢ Đối với doanh nghiệp ─ Nhập khẩu giúp cho các doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí sản xuất, tăng năng suất lao động trong quá trình nghiên cứu, sản xuất mà vẫn thu được kết quả tương đối về phát triển khoa học kỹ thuật. ─ Nhập khẩu khiến cho các doanh nghiệp cạnh tranh gay gắt để chiếm được thị trường, từ đó giúp tăng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp, đáp ứng kịp thời nhu cầu ngày càng biến động của thị trường. ─ Hoạt động nhập khẩu còn có vai trò khác đối với doanh nghiệp đó là mở rộng quy mô sản xuất, phân công lao động xã hội,…Khi doanh nghiệp đã có thị trường nhập khẩu thuận lợi, dĩ nhiên việc nhập khẩu có hiệu quả làm cho sản phẩm sản xuất có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu khách hàng.