Đặt vấn đề Hiện nay, mặt đường mềm (MĐM) vẫn là kết cấu được sử dụng phổ biến trong xây dựng đường ô tô. Các dự án đã và đang tiếp tục triển khai như: - Đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai; - Đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng; - Đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây; - Đường cao tốc Bến Lức - Long Thành; - Đường cao tốc Trung Lương – Mỹ Thuận; - Dự án cải tạo và nâng cấp QL 20; - Đầu tư xây dựng công trình mở rộng QL.1A (đoạn qua tỉnh Khánh Hòa); - Đường Hồ Chí Minh đoạn qua Tây Nguyên, - …. Và còn nhiều, nhiều nữa những tuyến đường vành đai ở các thành phố lớn; đường nội tỉnh đều sử dụng tầng mặt áo đường là vật liệu bê tông nhựa (BTN). Có thể khái quát hóa kết cấu mặt đường mềm ở các dự án như sau: - Tầng mặt thường sử dụng phổ biến 2 loại BTN: + Lớp trên: bê tông nhựa chặt hạt 12,5 mm (BTNC 12,5); + Lớp dưới: bê tông nhựa chặt hạt 19,00 mm (BTNC 19).
Ví dụ như đường Hồ Chí Minh (qua Tây Nguyên), đường QL.1A có tầng mặt lớp trên là BTNC 12,5 dày 6,00 cm và lớp dưới BTNC 19 dày 7,00 cm. - Tầng m ng thường là 2 lớp cấp phối đá dăm (CPĐD): + Móng trên: cấp phối đá dăm hạt 25 mm (CPĐD 25); -2- + M ng dưới: cấp phối đá dăm hạt 37,5 mm (CPĐD 37,5). Tùy thuộc lưu lượng xe và tải trọng vận chuyển dẫn tới yêu cầu lớp móng trên của kết cấu áo đường mềm sẽ là cấp phối đá trộn nhựa (ĐTN) hoặc đá dăm đen (ĐDĐ) hay cấp phối đá gia cố nhựa (ĐGCN). Ví dụ: Dự án cải tạo và nâng cấp QL 20 đã sử dụng móng trên là ĐDĐ dày 10 cm.
Thực tế đã thiết kế, thi công lớp ĐTN. Đường Đại lộ Đông – Tây (TP.HCM) có tầng mặt là 02 lớp BTNC dày 12 cm (5 cm + 7 cm) gắn kết với lớp móng trên là đá gia cố nhựa (ĐGCN). Chiều dày thay đổi lần lượt theo các lý trình là 10, 16, 21 và 15 cm [1]. Kết cấu áo đường xây dựng xong phải đáp ứng các yêu cầu của hệ thống đường bộ biểu thị theo quy luật hình ch p cân dưới đây [8].
Qui luật hình chóp về sản phẩm kết cấu áo đƣờng mềm a- Trên hết là các yêu cầu của người sử dụng: đ là an toàn, nhanh, liên tục, kinh tế, tiện lợi. b- Dưới đ là các yêu cầu về chức năng của mặt đường: ổn định chống trượt, bằng phẳng êm thuận, đồng nhất, không hư hỏng, chống ồn. c- Tiếp theo là các yêu cầu về độ tin cậy của đường: sức chịu tải, độ bền, mức độ chăm s c bảo dưỡng để đảm bảo kết cấu hoạt động đúng tuổi thọ thiết kế. -3- d- Sau đ là yêu cầu về các lớp áo đường: qua thời gian xây dựng, sử dụng phải đảm bảo độ chặt, độ bền chống mỏi, chống nước, chống biến dạng dư và duy trì tốt tính chống trượt.
e- Cuối cùng là các yêu cầu về vật liệu áo đường như: vật liệu đất đá, các chất liên kết, thành phần cấp phối, hàm lượng nhựa đường và các tính chất kỹ thuật yêu cầu của hỗn hợp BTN. Như vậy, tiêu chí cao nhất của sản phẩm đường bộ là phải đạt các yêu cầu kỹ thuật, chất lượng tốt nhất để phục vụ mọi đối tượng tham gia giao thông. Tuy nhiên, thời gian gần đây, cùng với việc khánh thành đưa vào sử dụng nhiều dự án xây dựng công trình giao thông đã xảy ra những sự cố ngoài mong muốn sau thời gian ngắn khi đưa đường vào khai thác. Đ là hiện tượng phát sinh lún trồi dưới vệt bánh xe trên mặt đường BTN (hình 2) a/ Khu vực phía Bắc -4- b/ Khu vực Miền Trung c/ Khu vực phía Nam -5- d/ Một số nước trên thế giới Hình 2.
Hiện tƣợng lún trồi trên mặt đƣờng BTN Hiện tượng hư hỏng lớp mặt BTN cũng xảy ra ở Thành phố Nha Trang. Đặc biệt là dạng nứt mai rùa ở lớp BTNC 19 mới rải thuộc dự án xây dựng công trình mở rộng QL.1A, đoạn qua tỉnh Khánh Hòa (hình 3). Hiện tƣợng hƣ hỏng mặt đƣờng BTN ở Thành phố Nha Trang -6- Có nhiều nội dung đề cập tới nguyên nhân gây lún trồi, hư hỏng. Nhưng, trước tiên, chúng ta phải nhìn thẳng vào chất lượng BTN.
Mặc dù có những diễn biến phức tạp về tải trọng vận chuyển; mặc dù còn các khiếm khuyết tồn tại trong bài toán kết cấu mặt đường mềm xét theo tiêu chuẩn hằn vệt bánh xe; trước mắt, chúng ta có thể khắc phục trên cơ sở phải nâng cao chất lượng, giúp BTN ổn định tốt hơn trong điều kiện có biến động về tải trọng và giảm hiện tượng nhiệt dẻo của BTN xảy ra ở vùng có khí hậu nóng cao. Là người trực tiếp tham gia công tác giám sát dự án Đầu tư xây dựng công trình mở rộng QL.1A (đoạn qua tỉnh Khánh Hòa), Tác giả thấy đề tài “Nghiên cứu giải pháp kỹ thuật nâng cao chất lượng bê tông nhựa n ng đang sử dụng ở tỉnh Khánh Hòa” là cần thiết, phù hợp không chỉ cho Nha Trang, Khánh Hòa mà còn giúp ích cho nhiều tỉnh, Thành phố khác. Việc nâng cao chất lượng BTN phục vụ cho dự án đã được Công ty cổ phần UTC2 (Trường Đại học GTVT cơ sở 2, Quận 9, TP.Hồ Chí Minh) thí nghiệm tăng khả năng dính bám của nhựa đường với đá khi bổ sung một số phụ gia vào nhựa đường. Kết quả đã được sử dụng để thiết kế BTN theo Quyết định 858/QĐ-BGTVT của Bộ GTVT nhằm thỏa mãn yêu cầu hằn vệt bánh xe [5].
Mục tiêu đặt ra cho đề tài của học viên (HV) đƣợc lựa chọn là: - Nghiên cứu nâng cao chất lượng BTN ở khu vực Thành phố Nha Trang, của tỉnh Khánh Hòa trên cơ sở sử dụng nhựa đường chuyên ngành giao thông c độ kim lún thấp (Nhiệt độ hóa mềm cao). Hiện nay, nhựa chuyên dùng làm đường ở nước ta phổ biến là nhựa đặc bán cứng loại 60/70 (gọi theo độ kim lún). Trong tương lai gần, việc sử dụng nhựa mác thấp 20/30 và 40/50 là cần thiết nên việc nghiên cứu này chính là lời giải cụ thể cho tiếng nói chất lượng của BTN sử dụng nhựa đường c độ -7- kim lún thấp. Đồng thời cũng xác định các chỉ tiêu kỹ thuật cần thiết phục vụ tính toán kết cấu áo đường mềm.
Khảo sát các chỉ tiêu kỹ thuật của BTN phụ thuộc vào nhiệt độ (to) căn cứ theo đường cong thiết kế ở dự án. Trên cơ sở đ , tiếp tục khảo sát tiêu chuẩn hằn vệt bánh xe để hoàn thiện lời giải kết cấu BTN mặt đường mềm. Đ cũng chính là ý nghĩa khoa học của đề tài. Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài: Là BTN tầng mặt.
Trong đ sử dụng loại đá phổ biến dùng chế tạo BTN nóng ở khu vực Nha Trang. Đặc biệt, loại đá này cũng được sử dụng để thi công BTN cho dự án Đầu tư xây dựng công trình mở rộng QL. Chất dính kết nhựa đường sẽ chế tạo từ nhựa đặc bán cứng loại 60/70 kết hợp với nhựa cứng để tìm ra loại nhựa đường c độ kim lún trong khoảng 45 (1/10 mm) thuộc mác nhựa 40/50. Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Là bê tông nhựa chặt hạt 19 mm (BTNC 19).
Chỉ tiêu cơ lý của mẫu BTN đều thỏa mãn yêu cầu kỹ thuật trong [2] và phù hợp cho BTN tầng mặt của đường cấp I, II và III. So sánh BTN nghiên cứu với BTN đã sử dụng ở khu vực Thành phố Nha Trang trước đây và BTN đang sử dụng ngay trong dự án Đầu tư xây dựng công trình mở rộng QL. Phƣơng pháp nghiên cứu và cách tiếp cận đề tài: - Phương pháp nghiên cứu sử dụng trong luận văn (LV) là phương pháp kết hợp giữa lý thuyết với thí nghiệm thực nghiệm trong phòng. - Về lý thuyết: phải hiểu và nắm vững vai trò của mỗi lớp vật liệu trong kết cấu mặt đường mềm và tầng mặt trên cùng là 02 lớp BTN.
Các nội dung lý thuyết liên quan tới thiết kế BTN cũng như các nội dung ảnh hưởng tới chất lượng yêu cầu của BTN. Tìm hiểu và đọc tài liệu liên quan trong và ngoài nước. Thí nghiệm thực nghiệm trong phòng cho phép chúng ta khảo sát được các đặc trưng về cường độ của mẫu BTN thiết kế chịu ảnh hưởng của to như: -8- + Mô đun đàn hồi của BTN ở 10, 30 và 500C; + Cường độ chịu nén của BTN ở 10, 30 và 500C; + Độ bền ép chẻ của BTN ở 10, 30 và 500C; + Độ bền Marshall của BTN ở 60, 70 và 750C; + Yêu cầu chỉ tiêu thí nghiệm hằn vệt bánh xe; + Các chỉ tiêu cơ lý khác của BTN. Kết quả được so sánh với mẫu BTN đối chứng sử dụng chất dính kết là nhựa đường 60/70 và so sánh với yêu cầu của quy trình, quy phạm.
-9- CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LƢỚI ĐƢỜNG VÀ CHẤT LƢỢNG ĐẠT ĐƢỢC CỦA BÊ TÔNG NHỰA Ở TỈNH KHÁNH HÕA 1. QUY HOẠCH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN GIAO THÔNG TRONG TỈNH Tỉnh Khánh Hòa nằm ở miền duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam, hướng Bắc giáp tỉnh Phú Yên, Tây Bắc giáp tỉnh Đắk Lắk, Tây Nam giáp tỉnh Lâm Đồng; hướng Nam giáp tỉnh Ninh Thuận và hướng Đông nhìn ra Biển Đông (hình 1-1). Các tỉnh giáp ranh nêu trên đã cho thấy: Khánh Hòa c địa hình phức hợp của một tỉnh duyên hải, đồi núi xen kẹp các đồng bằng nhỏ thấp dần hướng ra biển. Khánh Hòa còn c hơn 200 đảo và quần đảo lớn nhỏ.
Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 5. Bờ biển ở Khánh Hòa dài 385 km. Đặc biệt, huyện đảo Trường Sa có vị trí kinh tế, an ninh quốc phòng trọng yếu. Hai Thành phố trực thuộc tỉnh (Nha Trang và Cam Ranh), một thị xã (Ninh Hòa) và 6 huyện: Vạn Ninh, Diên Khánh, Khánh Vĩnh, Khánh Sơn, Cam Lâm (trừ huyện đảo Trường Sa) đã giúp Khánh Hòa c được vị trí giao thông đường bộ thuận lợi, đặc biệt tuyến Quốc lộ 1A xuyên suốt chiều dài của tỉnh.
Hệ thống cơ sở hạ tầng đường bộ ở tỉnh Khánh Hòa tương đối phát triển, Quốc lộ 1A chạy dọc ven biển từ Đèo Cả đến ghềnh Đá Bạc nối liền với các tỉnh phía Bắc và phía Nam; Quốc lộ 26 nối Ninh Hòa với Đắk Lắk và các tỉnh Tây Nguyên; đường 723 (2) rút ngắn khoảng cách Nha Trang đi Đà Lạt còn 140 km và dự án đường cao tốc Bắc Nam đi qua Khánh Hòa.