Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác kiểm soát kỹ thuật thi công xây dựng công trình giao thông. Chương 2: Đánh giá thực trạng công tác kiểm soát kỹ thuật thi công xây dựng tại các dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông của Ban Quản lý dự án 7. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát kỹ thuật thi công xây dựng tại các dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông của Ban Quản lý dự án 7. 4 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KIỂM SOÁT KỸ THUẬT THI CÔNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 1.
Giới thiệu chung về dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông 1. Khái niệm về dự án đầu tư xây dựng a. Khái niệm về Dự án Dự án là một tập hợp các hoạt động, công việc có liên quan với nhau được thực hiện theo một quy trình nhất định để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện ràng buộc về thời gian, nguồn lực, ngân sách. Khái niệm về Đầu tư Đầu tư là sự bỏ ra một lượng vốn để tạo ra một tài sản (có thể là vật chất hoặc tài chính như cổ phần, cho vay.) nhằm khai thác, sử dụng nó, để tài sản này sinh lời hay thỏa mãn nhu cầu của người bỏ vốn trong khoảng thời gian nhất định trong tương lai.
Những đặc trưng cơ bản của đầu tư: Hình 1. Những đặc trưng của đầu tư c. Khái niệm về Dự án đầu tư: Dự án đầu tư: là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định [7]. Khái niệm về Dự án đầu tư xây dựng: Dự án đầu tư xây dựng: là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình 5 hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định [8].
Phân loại dự án đầu tư xây dựng: Dự án đầu tư xây dựng được phân loại theo: - Phân loại theo tính chất, quy mô, loại công trình chính của dự án. Dự án theo tiêu chí quy định của pháp luật về đầu tư công, bao gồm: Dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B, dự án nhóm C [5], [6]. - Phân loại theo nguồn vốn: Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách và dự án sử dụng vốn khác. Trình tự thực hiện dự án đầu tư xây dựng Trình tự thực hiện dự án đầu tư xây dựng theo quy định tại Khoản 1 Điều 50 của Luật Xây dựng năm 2014 bao gồm 3 giai đoạn chính [5]: Giai đoạn chuẩn bị dự án; Giai đoạn thực hiện dự án; Giai đoạn kết thúc xây dựng.
Giai đoạn chuẩn bị dự án gồm các công việc: Tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi (nếu có); lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng để xem xét, quyết định đầu tư xây dựng và thực hiện các công việc cần thiết khác liên quan đến chuẩn bị dự án; b. Giai đoạn thực hiện dự án gồm các công việc: Thực hiện việc giao đất hoặc thuê đất (nếu có); chuẩn bị mặt bằng xây dựng, rà phá bom mìn (nếu có); khảo sát xây dựng; lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng; cấp giấy phép xây dựng (đối với công trình theo quy định phải có giấy phép xây dựng); tổ chức lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng xây dựng; thi công xây dựng công trình; giám sát thi công xây dựng; tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành; nghiệm thu công trình xây dựng hoàn thành; bàn giao công trình hoàn thành đưa vào sử dụng; vận hành, chạy thử và thực hiện các công việc cần thiết khác; c. Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng gồm các công việc: Quyết toán hợp đồng xây dựng, bảo hành công trình xây dựng. Trình tự thực hiện dự án đầu tư xây dựng 7 1.
Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông 1. Khái niệm quản lý dự án đầu tư xây dựng Quản lý dự án là một nghệ thuật và khoa học phối hợp con người, thiết bị, vật tư, kinh phí và thời gian để hoàn thành dự án đúng hạn và trong phạm vi kinh phí được duyệt. Hay nói cách khác: Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép [7], [10]. Các giai đoạn quản lý dự án: Lập kế hoạch: Đây là giai đoạn xây dựng mục tiêu, xác định những công việc cần được hoàn thành, nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và là quá trình phát triển một kế hoạch hành động theo trình tự logic mà có thể biểu diễn dưới dạng sơ đồ hệ thống [10].
Điều phối thực hiện dự án: Đây là quá trình phân phối nguồn lực bao gồm: tiền, vốn, lao động, thiết bị và đặc biệt quan trọng là điều phối và quản lý tiến độ thời gian. Giai đoạn này chi tiêt hóa thời hạn thực hiện cho từng công việc và toàn bộ dự án (khi nào bắt đầu, khi nào kết thúc…) [10]. Các giai đoạn của quá trình quản lý dự án Giám sát: là quá trình theo dõi, kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình 8 hình hoàn thành, giải quyết những vấn đề liên quan và thực hiện báo cáo hiện trạng [10]. Tập hợp các giai đoạn của quá trình quản lý dự án tạo thành một chu trình năng động từ việc lập kế hoạch đến điều phối thực hiện và giám sát, sau đó qua nhà quản lý phản hồi cho việc tái lập kế hoạch dự án như trình bày trong Hình 1.
Hình thức tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng Căn cứ quy mô, tính chất, nguồn vốn sử dụng và điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân, điều kiện thực hiện dự án, người quyết định đầu tư quyết định áp dụng một trong các hình thức tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sau đây [8]: 1. Hình thức Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành, khu vực: Trường hợp áp dụng: Áp dụng đối với dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, dự án theo chuyên ngành sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách của tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước [8]. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, người đại diện có thẩm quyền của doanh nghiệp nhà nước quyết định thành lập Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực để quản lý một số dự án thuộc cùng chuyên ngành, tuyến công trình hoặc trên cùng một địa bàn [3], [5]. Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực được giao làm chủ đầu tư một số dự án và thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý dự án, tham gia tư vấn quản lý dự án khi cần thiết.
Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực có trách nhiệm sau: - Thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư theo quy định. - Trực tiếp quản lý đối với những dự án do người quyết định đầu tư giao 9 và thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định: - Bàn giao công trình cho cơ quan, đơn vị quản lý vận hành, khai thác sử dụng; trường hợp cần thiết được người quyết định đầu tư giao thì trực tiếp quản lý vận hành, khai thác sử dụng công trình. - Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực được thực hiện tư vấn quản lý dự án đối với dự án khác khi có yêu cầu và thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định. Hình thức Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng một dự án: Trường hợp áp dụng: Dự án sử dụng vốn nhà nước quy mô nhóm A có công trình xây dựng cấp đặc biệt, dự án áp dụng công nghệ cao được Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ xác nhận bằng văn bản, dự án về quốc phòng, an ninh có yêu cầu bí mật nhà nước, dự án sử dụng vốn khác [8].
Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng một dự án là tổ chức sự nghiệp trực thuộc chủ đầu tư, có tư cách pháp nhân độc lập, được sử dụng con dấu riêng, được mở tài khoản tại kho bạc nhà nước và ngân hàng thương mại theo quy định để thực hiện các nhiệm vụ quản lý dự án được chủ đầu tư giao; chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư về hoạt động quản lý dự án của mình [5]. Hình thức chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án: Trường hợp áp dụng: Các dự án cải tạo, sửa chữa quy mô nhỏ, dự án có sự tham gia của cộng đồng. Chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án là hình thức chủ đầu tư sử dụng bộ máy của cơ quan, đơn vị mình để trực tiếp tổ chức quản lý thực hiện dự án hoặc giao cho Ban Quản lý dự án do mình thành lập ra để tổ chức quản lý thực hiện dự án cụ thể sau: - Mô hình 1: Chủ đầu tư không thành lập Ban Quản lý dự án mà sử dụng bộ máy hiện có của mình để trực tiếp tổ chức quản lý thực hiện dự án. Mô hình này được áp dụng với dự án có quy mô nhỏ, khi bộ máy của chủ đầu tư kiêm nhiệm được việc quản lý thực hiện dự án.
10 - Mô hình 2: Chủ đầu tư thành lập Ban Quản lý dự án để giúp mình trực tiếp tổ chức quản lý thực hiện dự án cụ thể như sau: + Chủ đầu tư giao cho Ban Quản lý dự án hiện có để quản lý thêm dự án mới.