CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU I. Đặc điểm địa lý tự nhiên khu vực nghiên cứu I. Vị trí địa lý Vĩnh Thạnh nằm phía Tây bắc tỉnh Bình Định, ở vĩ độ 13 058’ Bắc và kinh độ 1080 Đông, cách thành phố Quy Nhơn 80 km, có vị trí địa lý: Phía đông và đông bắc giáp các huyện Hoài Ân, Phù Mỹ, Phù Cát Phía nam giáp huyện Tây Sơn và Vân Canh; Phía tây và tây bắc giáp huyện Kbang, thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai và huyện An Lão. Hình I-5: Bản đồ hành chính tỉnh Bình Định 7 Theo thống kê năm 2019, huyện có diện tích 701,0 km², dân số là 30.587 người, mật độ dân số đạt 44 người/km².
Huyện Vĩnh Thạnh là địa bàn hội tụ 12 dân tộc anh em sinh sống, trong đó đông nhất là dân tộc Kinh. Địa hình có nhiều đồi, núi. Sông Kone chảy qua huyện theo hướng Bắc-Nam. Vĩnh Thạnh có quỹ đất tự nhiên khá rộng, đứng thứ 2 (sau Vân Canh) trong 11 huyện, thành phố của tỉnh Bình Định (số liệu 2017 là 782,49/6.075,4 km²) chiếm 39% diện tích 3 huyện miền núi của tỉnh và 13% diện tích tự nhiên toàn tỉnh.
Đặc điểm địa hình Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng có địa hình đồi núi cao, các dãy núi phát triển theo hướng Bắc Nam, các đỉnh núi có cao độ 800 – 900m và bị phân cách bới các nhánh suối nhỏ của sông Côn. Địa mạo khu vực đặc trưng bởi dạng thung lũng mở rộng, với các sườn đồi hai bên khá thoải, kết quả của một quá trình bào mòn, phát triển mạnh cả về chiều thẳng đứng và chiều nằm ngang trên một nền địa chất tương đối tương đối đồng nhất, không có tính phân lớp. Quá trình bào mòn phát triển mạnh dọc theo các hệ thống đứt gãy chính trong vùng. Lớp phủ tàn tích, sản phẩm của quá trình phong hoá đá gốc thường có bề dày lớn từ 5 ÷ 15 m, hoặc hơn.
Dạng địa hình tích tụ chỉ gặp ở dọc sông, các thềm sông thường có bề rộng 50 ÷ 60 m kéo dài hàng trăm mét, Từ phía đập Định Bình về phía phía hạ lưu địa hình tích tụ phát triển mạnh, tạo thành cánh đồng rộng vài km thuộc xã Vĩnh Thịnh. Đặc điểm địa chất Theo các kết quả nghiên cứu địa chất, cấu tạo và kiến tạo mới nhất, nền đá biến chất của địa khối Kon Tum trong vùng công trình bị phân cách bởi hệ thống đứt gãy cấp III chạy dọc theo hướng Bắc- Nam. Đứt gãy lớn nhất gọi là đứt gãy sông Kone chạy phía bên phải và gần song song với hướng chảy của sông Kone. Do tác động của đứt gãy này đã kéo theo sự hình thành của một loại đứt gãy nhỏ khác theo hướng tương tự.
Hệ thông đứt gãy thứ hai cáo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Dọc theo các đứt gãy thuộc hệ thống này đã hình thành các khối xâm nhập Granit nhỏ như đã nêu trên. Một đứt gãy thuộc hệ thống này chạy ngang phía hạ lưu vị trí đầu mối Định Bình, và có thể là nguyên nhân chính làm thay đổi hướng chảy của sông Kone ngay phía hạ lưu đập. Do nền địa chất là các lớp đất đá kết tinh và đá xâm nhập liền khối, có tính thấm nước và trữ nước nhỏ, do đó nước ngầm chỉ gặp ở phần trên cùng của nề đá gốc trong đới đá phong hoá nứt nẻ.
Nước ngầm có nguồn bù cấp chính là nước mưa và có hướng vận động về phía sông Kone và các nhánh của nó. Do lượng mưa trong vùng tương đối 8 cao, khoảng 1700 ÷ 1800 mm/ năm, nên nước ngầm khá dồi dào. Mực nước ngầm tại các sườn đồi nói chung nằm sâu từ 7÷ 15m. Nước mặt tập trung chủ yếu ở sông Kone và các chi lưu chính như Đắc Sem, Kriêng- Tin.
Dòng chảy hiện tại của sông Kone phụ thuộc một mặt vào sự làm việc của hồ chứa nước Vĩnh Sơn, cách đập Định Bình khoảng 20 km về thượng lưu, và lưu lượng của các chi lưu nhỏ nằm dưới thuỷ điện Vĩnh Sơn. Đặc điểm khí hậu, khí tượng Vĩnh Thạnh là một huyện miền núi do điều kiện hoàn lưu gió mùa kết hợp với vị trí địa lý và điều kiện địa hình, đặc biệt là dãy Trường Sơn có ảnh hưởng lớn đến các yếu tố khí hậu của huyện. Có khí hậu nhiệt đới ẩm, mưa mùa. Nhiệt độ trung bình hàng năm 26 – 280C.
Lượng mưa trung bình năm 1.716 mm, phân bổ theo mùa rõ rệt. Mùa mưa (từ tháng 10 đến tháng 12) tập trung 70 – 80% lượng mưa cả năm, lại trùng với mùa bão nên thường xuyên gây ra bão, lụt. Mùa khô kéo dài gây nên hạn hán ở nhiều nơi. Lượng bốc hơi trung bình hàng năm là 900 – 1.100 mm, chiếm 50 – 55% tổng lượng mưa.
Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm là 81%. Mạng lưới các yếu tố và thời gian quan trắc khí tượng khu vực và vùng liên quan Công tác nghiên cứu KTTV trên lưu vực sông Kone đã được quan tâm từ lâu. Cho đến nay, tài liệu đo đạc từ mạng lưới trạm trên lưu vực sông Kone khá đầy đủ. Mạng lưới trạm đo mưa trên lưu vực sông Kone, nhất là vùng hạ du khá dày, nhưng trạm đo thủy văn thì thưa thớt, tài liệu thiếu đồng bộ và đây là một hạn chế trong việc đánh giá nguồn nước của dòng chính sông Kone (bảng I-1).
Bảng I-2: Mạng lưới trạm quan trắc các yếu tố khí tượng - thủy văn TT Tên trạm Thời kỳ đo Số năm đo Yếu tố đo Ghi chú 1 Vĩnh Kim 1983-2020 38 X(mm) X(mm): Điểm đo mưa 2 Vĩnh Sơn 1983-2020 38 X(mm) Trạm thuỷ văn 3 Định Bình 1983-2008 25 X(mm) 4 Kbang 1983-2008 25 X(mm) 5 Krong Pa 1983-2008 25 X(mm) 6 An Toàn 1983-2008 25 X(mm) 7 Hoài Ân 1983-2020 38 X(mm) 8 An Khê 1983-2008 25 X(mm) 9 Bình Tường 1983-2008 25 X(H,Q) 10 Quy Nhơn 1983-2020 38 X,V,Z,U Trạm khí tượng 9 I. Nhiệt độ không khí (ToC): Nhiệt độ không khí bình quân, cao nhất, thấp nhất các tháng trong năm ghi ở bảng I-2. Bảng I-3: Các đặc trưng nhiệt độ của khu vực nghiên cứu Nhiệt độ bình quân Nhiệt độ cao nhất Nhiệt độ thấp Tháng nhất( Tmin) ( ) ( Tmax) 1 23,1 33,0 15,2 2 23,9 35,4 15,7 3 25,4 38,3 16,4 4 27,3 36,6 19,4 5 28,9 39,7 19,1 6 29,7 40,9 21,7 7 29,8 42,1 20,6 8 29,8 40,9 20,7 9 28,4 39,0 20,5 10 26,8 37,3 17,9 11 25,4 32,9 15,0 12 23,7 31,5 16,1 Năm 26,9 42,1 15,0 I. Độ ẩm không khí, (u%) Bảng I-4: Các đặc trưng độ ẩm không khí trung bình của khu vực Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm (%) 84 82 83 83 80 74 71 71 78 83 84 83 2002 I.
Số giờ nắng, n (giờ/ ngày) Bảng I-5: Số giờ nắng bình quân ngày các tháng trong năm. Vận tốc gió, v ( m/s) Bảng I-6: Vận tốc gió bình quân các tháng trong năm. Mưa Lượng mưa trung bình năm trong vùng vào khoảng 1700 ÷ 1800 mm, phân bố thành 2 mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12, mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8.
Trong mùa mưa, cường độ mưa lớn thường tập trung vào tháng 10 và tháng 11, chiếm tới 80% lượng mưa cả năm, thường gây lũ lụt. Mùa khô kéo dài khoảng 8 tháng, lượng mưa chỉ chiếm 20% cả năm, bốc hơi lớn, thường gây ra hạn hán thiếu nước nghiêm trọng. Hình I-1: Bản đồ đẳng trị mưa năm của tỉnh Bình Định 11 I. Tình hình gió, bão trong vùng I.
Gió Vùng lãnh thổ Bình Định chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính, gió mùa mùa Đông và gió mùa mùa Hạ có thời gian thịnh hành tương ứng là tháng 1 và tháng 7 hàng năm. Vận tốc gió trung bình là 2,1 m/s, trung bình tháng lớn nhất là 2,8 m/s và nhỏ nhất là 1,5 m/s. Là một loài hình thời tiết nguy hiểm thường gây ra thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản. Thời gian bão xuất hiện tập trung chủ yếu trong 3 tháng, từ tháng 9 đến tháng 11, trong đó bão trong tháng 10 chiếm đến 40%, tháng 11 chiếm khoảng 20% trong tổng số các cơn bão đổ bộ vào từ tháng 6 đến tháng 12.
Đặc điểm thủy văn Sông Kone là sông lớn nhất trong các sông trong tỉnh, có tổng diện tích lưu vực là Flv = 3067km2, dài L = 178,0km. Sông bắt nguồn từ vùng rừng núi của dãy Trường Sơn. Sông chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam đến Thanh Quan - Vĩnh Phúc sông chảy theo hướng Bắc Nam về đến Bình Tường sông chảy theo hướng Tây Đông và về đến Bình Thạnh sông chia thành hai nhánh chính: Nhánh Đập Đá chảy ra cửa An Lợi rồi đổ vào đầm Thị Nại; nhánh Tân An có nhánh sông Gò Chàm cách ngã ba về phía hạ lưu khoảng 2km, sau khi chảy trên vùng đồng bằng rồi nhập với sông Tân An cùng đổ vào đầm Thị Nại tại cửa Tân Giảng. Tất cả các nhánh sông Đập Đá và Tân An sau khi đổ vào đầm Thị Nại được thông qua biển qua cửa Quy Nhơn.
Trên sông Kone về mùa mưa hầu hết nước sông không bị mặn, độ mặn chỉ vào khoảng 0,03 đến 0,33psu; Từ thượng lưu về hạ lưu sông chảy giữa các vách núi cao có độ dốc lưu vực lớn nên lũ tập trung nhanh. Đoạn sông Kone ở vùng đồng bằng có lòng sông rộng và nông, nhiều chi lưu nhỏ, ngắn, mùa kiệt nguồn nước rất nghèo nàn, khả năng điều tiết lưu vực kém. Ngược lại gặp lũ lớn , nước ngập mênh mông vùng hạ lưu. Rừng đầu nguồn sông Kone còn tương đối tốt, ít bị chặt phá, nguồn nước sông khá dồi dào nhưng phân bố không thuận lợi.
Thượng nguồn song Kone có khả năng xây dựng một số hồ chứa nước lớn, tạo nguồn và làm nhiệm vụ điều tiết khai thác tổng hợp phục vụ phát triển kinh tế khu vực. Điều kiện kinh tế xã hội I. Dân cư Theo thống kê năm 2019, huyện có diện tích 701 km², dân số là 30.587 người, mật độ dân số đạt 44 người/km². Huyện Vĩnh Thạnh là địa bàn hội tụ 12 dân tộc anh em sinh sống, trong đó đông nhất là dân tộc Kinh.
Đặc điểm kinh tế I. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; tài nguyên và môi trường Giá trị sản xuât nông, lâm nghiệp và thủy sản ước thực hiện 743.083 triệu đồng, đạt 99,9% kê hoạch, tăng 6,6% so với năm trước. a) Trồng trọt Tổng diện tích cây lúa thực hiện 2.297 ha, đạt 89% kế hoạch, giảm 0,6% so với cùng kỳ, năng suất ước đạt 61,1 tạ/ha, tăng 3,2 tạ/ha, sản lượng 14.027,9 tấn, tăng 654,7 tấn.